Xây dựng Định lăng

Đô thị cổ Bắc Kinh

Vật liệu xây dựng Định lăng, chủ yếu là gạch, phiến đá lớn, gỗ, chế phẩm lưu li. Trong đó gạch dùng nhiều nhất, nơi sản xuất gạch chủ yếu là tám Thanh Sơn Đông. Nó ở cuối lưu vực sông Hoàng Hà, có con kênh lớn là giao thông đường thuỷ huyết mạch từ Kinh đô đến Hàng Châu di qua, chất đất ở đây mịn màng không lẫn cát, giao thông thuận tiện, là một nơi sản xuất và vận chuyển gạch khá lý tưởng. Công đoạn làm gạch cũng lắm công phu: đào bùn đất lên, phơi qua mùa dông giá rét, mùa xuân xới tan phơi khô, sau đó sàng lọc và ngâm trong nước khá lâu, rồi đem nhào nặn, dập khuôn, nung đốt thành gạch. Mỗi viên gạch dài 0,49 mét, rộng 0,24 mét, dầy 0,12 mét, nặng 24kg, chất lượng cực tốt. Để dể bề kiểm tra chất lượng, trên mỗi viên gạch đểu ghi rõ tên lò, thời gian sản xuất và tên thợ cả. Khi nghiệm thu không đạt chất lượng, chỉ cần nhìn vào đấy là biết sản phẩm của ai. Gạch có màu ghi pha trắng, nên gọi là gạch “Bạch thành”. Vào tháng 4-1574 (nám thứ 2 đời Vạn Lịch), tuy chưa có những công trình xây dựng lớn, nhưng triều đình đã lệnh cho các lò gạch ở Lâm Thanh làm cho hoàng gia mỗi nám 1,2 triệu viên gạch Bạch thành.

Ngoài Lảm Thanh ra, huyện Võ Thanh Hà Bắc cũng sản xuất gạch Bạch thành. Xuất xứ là như thế này, quan địa phương dâng sớ lên nhà vua tâu rằng: “Vỗ Thanh có đất kết dính như Lâm Thanh, mà cách Kinh dô chỉ có 130 cây số, dường đất gần hơn Lúm Thanh hơn 1000 cây số, nếu tổ chức sán xuất gạch Bạch thành ở đây, không những tiết kiệm dược rất nhiêu lương thảo, thuyên bè, mà dân bớt khổ, ngân khô’nhà nước không phải chi nhiêu, thần thiết nghĩ dó là một kế sinh tài nẩy lộc hữu hiệu vậy”. Nhà vua xuống chỉ lệnh cho bộ Công xem xét, bộ Công bèn cho phép Võ Thanh mỗi năm sản xuất 300 ngàn viên. Đó là vào tháng 9-1574. Từ ngày khởi công xây dựng Định Lăng, sản lượng gạch của hai huyện này tăng lên dáng kể.

Ngoài gạch Bạch thành ra, còn dùng rất nhiều gạch vuông lát nền cung diện. Loại gạch này chỉ có vùng Tô Châu sản xuất. Công nghệ phức tạp hơn nhiêu so với làm gạch Bạch thành. Bùn đất phải ngâm khá lâu, rồi sàng sảy, giông như dãi vàng trên sông vậy, nên gạch này còn được gọi là “gạch vàng”.
Chất gạch mịn màng, mặt gạch bóng láng, rất hiếm thấy trong dãn gian. Đáng tiếc là công nghệ thất truyền, bây giờ không tài nào làm ra loại gạch này.
Việc vận chuyển gạch, do tù nhân chuyên trách, ngoài ra các thuyền chở lương thực của hoàng gia hay thuyền buôn của tư nhân đi lại trên kênh đều phải gánh vác nghĩa vụ vận chuyển gạch cho công trường. Gạch được chuyển tới Thông Châu nằm ở phía đông Kinh thành, rồi dùng xe vận chuyển không công, lời oán thán đầy mặt sông. Nhiừig mãi đến năm 1587, Định lăng thi công được ba năm, bộ Công mới táu lên nhà vua nỗi khổ của dân, xin vua miễn giảm lượng vận chuyển gạch Bạch thành. Nhà vua không đồng ý, xuống chiếu bộ Công: “Thọ cung đang cẩn dùng gạch, nên không cho miễn giảm. Khi nào Thọ cung xây xong, mỗi thuyền cho giảm 40 viên”. Nhiữig trên thực tế, Định lăng hoàn công rồi, nhà nước vẫn duy trì chế độ phân bổ ấy, gánh nặng của dân không hề được giảm bớt chút nào.

Những phiến đá lớn dùng để xây Định lăng chủ yếu lấy từ Đại Thạch Oa huyện Phồng Sơn, gồm nhiều chủng loại đá như đá trắng, trắng đen, cẩm thạch, trong hàng trăm ngàn phiến đá dó, phiến nặng nhất trên một tấn. Việc vận chuyển hết sức khó khăn và nặng nhọc. Phương pháp vận chuyển bằng “thuyên băng trên cạn” rất độc đáo, cứ cách nửa cây sô’ đào một cái giếng, đến mùa đông xách nước trong giếng đổ xuống đất để nước đóng thành băng, phiến đá trượt trên mặt băng tới núi Vạn Thọ. Hồi dó vận chuyển một phiến đá to dài 3 trượng (1 trượng bằng 10 thước, 1 mét bằng 3 thước), rộng ỉ trượng, dầy 5 thước từ Đại Thạch Oa tới Kinh dô cấn huy động 200 ngàn dân công, đi hết 28 ngày, tốn kém 110 ngàn tạng bạc. Nếu vận chuyển tới núi Vạn Thọ thì số lao động, thời gian tiền bạc phải tăng gấp đôi. Vào năm thứ 16 Gia Khánh (1537), Thượng thư bộ Công Mao Bá Ôn thấy phương thức vận chuyển đá bằng “thuyền băng trên cạn” như thê’này hao người tốn của quá, đồng thời bị hạn chế bởi mùa và thời tiết, bèn cho thợ làm xe ngựa 8 bánh để vận chuyển, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức. Đến đời Vạn Lịch, lang trung bộ Công Hạ Thịnh Thuy cải tiến xe ngựa 8 bánh thành 16 bánh, nâng hiệu xuất vận tải lên gấp đỏi. Tuy vậy, sự khó nhọc của công khai thác và vận chuyển đá có lẽ là nhất thê’giới

Cung điện Định lăng chủ yếu dùng gỗ Nam Mộc. Nơi sản xuất Nam Mộc tập trung ở các tỉnh Quảng Tây, Vãn Nam, Quỷ Châu và Tứ Xuyên. Nam Mộc là một loại gỗ quý, không những vì vân gỗ rắn chắc, chịu mối mọt và có mùi thơm, mà còn vì nó hiếm hoi, thời gian trưởng thành khá dài. Nhà Minh chỉ dừng Nam Mộc xảy dựng cung điện, thời kỳ đầu vào rừng già có thê khai thác rải rác ở đây đó, nhưng càng về sau càng khó kiếm, phải vào sâu tận vùng hoang sơ không hề có dấu chân người đặt tới hoặc leo lên trên những vách núi hiểm trở mới tìm thấy được. Đường sá gian truân đã đành, còn phải đương đầu với thú rừng, rắn rết, muỗi và khí độc.
Sử sách nhà Minh còn ghi lại cảnh dân công vào Tứ Xuyên khai thác gỗ Nam Mộc như sau “Mộc phu (phu đốn củi) liều mạng lội nước, đụng vào chướng khí chết, phơi xác ngoài rừng nhiều vô kể”. “Mộc phu lên đường, vợ con khóc thảm thiết như tiễn vào chỗ nước sôi lửa bỏng vậy” “Núi non mờ mịt chướng khí, mộc phu động vào, chết gục dưới suối. Xác trôi nước tắc, xương cốt chồng chất thành núi. Những người may mắn sống sót trở về, xanh xao phù thũng” “Một huyện có tới gần ngàn mộc phu bỏ mạng, cả tỉnh không dưới 100 ngàn”.
Định lăng dùng tới 10 ngàn cây Nam Mộc, cây to nhất đường kính tới trên 1,4 mét. Có thể tưởng tượng cái giá phải trả cho việc đốn một cây gỗ về tới công trường Định lăng lớn như thế nào.
Sau khi mộc phu chặt đổ cây Nam Mộc, họ phải mở rộng con đường mòn mà họ đi vào tới nơi đốn gỗ, rồi dùng sức người kéo ra bờ sông, đợi đến mùa nước lũ đẩy cây xuống sông cho xuôi theo dòng chảy. Trên dường đi, lại không biết bao nhiều người bỏ mạng khi vượt qua thác ghềnh. Tháng 5 năm thứ 20 Gia Khánh (1546), thượng thư bộ Lễ Nghiêm Tùng tâu với nhà vua về cảnh ngộ của mộc phu: “Nay khó khăn nhất là gổ, vì phái vào rừng sâu núi hiểm, hoang sơ không thấy bóng người đốn phạt; rồi kéo đến bờ sông đợi nước lũ dâng lên đẩy xuống dòng, vượt ngàn dặm mới tới Kinh đô. Vận chuyển đường đất đường sông mất không biết bao nhiêu năm tháng”.

So với gạch đá gỗ, việc sản xuất và vận chuyển chế phẩm lưu ly đỡ tôn kém và khố khăn hơn nhiều. Lượng chế phẩm lưu ly mà Định Lăng sử dụng, nhiều hơn bất cứ ngôi lăng nào. Do yêu cầu của nghệ thuật kiến trúc, ngoài bờ thành, cung điện, lưng con thú sử dụng ngói lưu ly như thường lệ ra, các kiến trúc quan trọng như cửa lăng đêu được trang hoàng bằng gạch lưu lỵ vẽ hình non nước, hoa lá, rồng phượng, kỳ lãn, hải mã, rắn rùa, trông nguy nga huy hoàng lộng lẫy hoa lệ hơn các lăng khác.
Nơi san xuất chê phẩm lưu ly chủ yếu tập trung ở kinh thành. Trước tiên nghiên nát bột gốm ra, sau qua sàng sảy, hoà với đất, làm phôi, hong khô, lên men, rồi cho vào tò nhiệt độ cao nung ra sản phẩm.

Kiến trúc trên mặt đất của Định lăng nằm trên trục chính nối liền tâm hai dinh Đại Dụ sơn và Mãng sơn, phong cách và nghệ thuật kiến trúc của nó được người đời đánh giá rất cao, nó là một trong những kiệt tác hiếm có trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc.
Thần đạo của Định lăng bắt đầu từ chỗ cách cầu bảy vòm 100 mét về phía bắc, rồi uốn lượn theo hướng tây bắc, vượt qua cầu ba vòm, xuyên qua cầu Kim Thuỷ, đến tận bia Vô tự trước khu lăng của Định lăng, dài ba cây số, rộng bảy mét, mặt đường lát đá xanh, hai bên viên những tấm dá hình thon. Đáng tiếc là bây giờ thần đạo và cầu ba vòm bị phá huỷ, chỉ còn lại di chỉ cây cẩu.