Vương phủ và nhà ở truyền thống

Đô thị cổ Bắc Kinh

Theo tài liệu cũ thì từ thời Vĩnh Lạc, ở phía đông nam Đông An môn đã xây dựng mười tòa vương phủ, có nhiều tòa vương phủ được mở rộng vào thời Thanh còn tồn tại ở Bắc Kinh đến nay cũng có đến trên 60 tòa. Tầng lóp thống trị đầu thời Thanh sau khi vào Trung Nguyên đã cảm thấy điều không lợi khi phân phong cho các phiên vương của hoàng triều sẽ tạo nên sự độc bá một phương và đối chọi với triều đình. Tuy không áp dụng chế độ phân phong lãnh địa, nhưng tước vị của họ lại không thế hủy bỏ mà chỉ ban các mỹ danh mà thôi. Như vậy các tông thất không thê độc bá một phương tuy vẫn được đãi ngộ hậu hĩnh. Vương phủ chính là nhà cửa mà hoàng đế ngự ban cho chư vương, mặt khác cũng là để lung lạc họ. Thời Thanh có quy định: các nhà cửa của thân vương và của quận vương được gọi là vương phủ. Vương phủ không chỉ phẩm cấp cao mà còn có quy mô kiến trúc lớn, chính phòng trong vương phú gọi là điện, nóc điện lợp ngói lưu ly xanh lục, trong điện bày bình phong và ngai báu, nhìn bể ngoài như một cung đình thu nhỏ. Phú so với vương phủ có quy mô nhó hơn nhiều, không được lợp ngói lưu ly mà chính phòng cũng không được gọi là điện. Ngoài ra về số gian phòng ốc, nền thềm cao thấp, đinh cửa nhiều ít, vương phủ và phủ cũng có khác nhau.

Hiện nay phủ còn được bảo tồn tương đối tốt ở Bắc kinh là các phủ của Bát đại gia “Thiết mạo tử vương” cuối thời nhà Thanh tức sáu vị thân vương và hai vị quận vương có chiến công hiển hách vào đầu thời Thanh được cha truyền con nối, cùng với vương phủ của bốn đại gia được phong ban xây dựng về sau. Mười hai vương phú đó đều xây dựng theo quy định hình chế. Trong số những kiến trúc cổ của Bắc Kinh, ngoài cung điện, đàn miếu, viên lâm thì phải kể đến vương phú. Quy định kiến tạo của vương phủ thường là:
trung lộ phải theo quy định chung còn hai lộ đông tây có thể tự do trong việc bô trí.
Nếu như vào thời Minh, các vương phú được phân bô rộng rãi ở nhiều nơi thì trái lại vào thời Thanh các vương phủ lại tập trung khá nhiều ở ngay trong thành nội Bắc Kinh.

Vương phủ và nhà ở truyền thống 1

Tứ hợp viện

Phủ Lễ thân vương nằm ở phía nam Tây An môn (phía đông giáp tường phía tây hoàng thành, phía nam giáp đền Đại Tương Phòng đường Đông Tà, phía tây giáp chợ gốm, phía bắc đến ngõ Bản Trường). Năm 1927, trường Đại học Hoa Bắc từng thuê phu Lễ thân vương làm trường ốc. Phủ Lễ thân vương có một hoa viên ở Hải Điện trấn, sau gọi là “hoa viên Lạc gia”, hoa viên chia thành tiền viên và hậu viên.

Phủ Thuận Thừa quận vương nằm ở đại lộ Câu Thái Bình, ở mặt nam chùa Bạch Tháp tức phía tây thành phố (nay là trụ sở của Uỷ ban Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc). Đời thứ nhất Đa La Thuận Thừa quận vương tên là Lặc Khắc Đức Hỗn là con thứ của Dĩnh Nghị thân vương Tát Cáp Lân, đã truyền qua chín đời tước vị. Vương phủ có diện tích bốn mươi mẫu, hơn hai trăm gian phòng ốc, nhưng do nhiều năm không tu sửa nên đã cũ nát, vào năm 1993 đã được tháo rời chuyển đến công viên Triều Dương. Trong quá trình di dời các chi tiết cấu kiện đã được đánh số trước khi Công trình kiến trúc được tháo rời. Trên một trăm gian phòng của vương phủ được tháo ra và di chuyển đến địa điểm mới, sau đó được lắp lại và xây dựng hoàn thiện đúng như cũ.

Phủ Khắc Cần quận vương nằm ớ đường Văn Hóa Mới, trong Tuyên Vũ môn, phú đệ tuy không rộng lớn nhưng kiến trúc tinh xảo, có ba viện chính, tiền viện và trung viện có năm gian, hậu viện bảy gian, đông tây phòng cũng là những kiến trúc tinh xảo.

Phủ Khánh thân vương nằm ở đại lộ Định Phủ ngoài Địa An môn, nguyên là nhà cũ của quyền thần Hòa Thân của Hoàng đế Càn Long. Năm Gia Khánh thứ tư phủ bị tịch thu ban cho đời thứ nhất của Khánh thân vương là Vĩnh Lân (con trai thứ mười bảy của Càn Long, là con trai nhỏ nhất). Nãm Càn Long thứ năm mươi tư Gia Khánh được tấn phong quận vương và sau đó còn dược phong là Khánh thân vương. Phủ có đến mấy trăm gian phòng ốc và sảnh đường, vể sau lại xây thêm các công trình như lầu Vạn Tự và Hí Lầu, đều rất đẹp đẽ tinh xảo.

Phủ Cung thản vương nguyên ở ngõ Thiết Sư Tử (đầu phía đông đại lộ Địa An môn) phần còn lại hiện nay thì nằm ở số 17 đường Tiền Hải Tây (phía tây Thập Sát). Ban đầu cũng là phủ đệ của Hòa Thân (một quyền thần ớ thời cuối đời vua Càn Long) được xây dựng vào khoảng nãm 1776 – 1785. Sau khi Càn Long chết, Hòa Thân thất sủng, nên nhà cửa bị tịch thu Gia Khánh đế ban tòa phủ đệ này cho em trai mình là Hy Kháng tức thân vương Vĩnh Lân, trở thành phủ Cung thân vương. Cung gồm hai phần là phủ đệ và hoa viên. Phủ đệ do nhiều nhà tứ hợp viện tổ thành; hoa viên có đá xếp giả núi, đĩnh tạ hành lang cong và hồ cảnh rất tráng lệ. Đây cũng là vương phủ được bảo tồn tốt nhất trong số các vương phủ hiện còn ở Bắc Kinh. Phủ đệ có ba quần thể kiến trúc là trung, đông và tây. Trung lộ có thần điện ở chính giữa (đã bị hủy hoại). Hậu lâu cao hai tầng, có núi giả bằng gỗ làm cầu thang. Nhóm kiến trúc phía tây có chính phòng là Tích Âm Trai với sân rất lớn.

Đại hoa viên ở phía bắc hậu lâu có quy mô rất lớn, phía trước có núi giả xếp bằng đá vân phiên, xung quanh có cảnh các giếng cổ, đình Lưu Bối, đỉnh Phi Lai, đỉnh Thúy Vân; phần sau núi giả xếp đá Thái Hồ, chia làm ba tầng, tầng dưới là đường trống, tầng giữa có hai ang hoa sen, tầng trên xây một gác nhỏ, trước gác có sân bằng là nơi để ngắm trăng. Các nhà ở có nhiều sân cỡ lớn như vương phủ thường kèm theo hoa viên đặt ở đằng sau và ở bên cạnh nhà ở. Kiểu nhà ở hoa viên này tại Bắc Kinh chỉ còn lại một số rất ít từ thời Minh.
Bố cục chung của các phủ thường là một quần thể được sắp xếp theo tinh thần “hướng nội” tức các khối nhà tạo thành quần thể những sân trong, phủ nhỏ ít sân còn các phủ lớn có nhiều sân kết hợp với những không gian trang trí cây cảnh. Các kiến trúc đều quay lưng ra phía ngoài gắn kết với tường bao kín xung quanh chỉ mở lối ra vào duy nhất ớ phía đông – nam. Lối bố cục “hướng nội” này cũng hay gặp ở nhiều xã hội mà điều kiện an ninh không cho phép các gia đình “cởi mớ” hơn đôi với xã hội, mặt khác điều kiện môi trường thiên nhiên cũng có những mặt bất lợi cho việc hướng ngoại như bị gió quá nóng hoặc quá lạnh, bão cát ở những vùng khô nóng. Bố cục nhà ở hướng nội tại Bắc Kinh còn thể hiện lối sống khép kín của các gia tộc VỚI nhiều thế hệ sống chung trong sự quản lý chặt chẽ của các bậc gia trưởng. Hơn thế nữa chính sân trong là nơi sinh hoạt rất thuận lợi vì tạo nên không khí gia đình ấm cúng, cũng là nơi có vi khí hậu tốt lành, tách biệt khỏi sự ồn ào náo nhiệt từ bên ngoài.

Cấu trúc các đô thị truyền thống Trung Quốc theo dạng kẻ ô vuông hoặc gần vuông cũng rất phù hợp với cách bố cục các quần thể nhà ớ dạng quây quần quanh sân trong vuông vức vẫn được gọi là nhà ở “tứ hợp viện”. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng cách bố cục này đã có từ khoảng thế kỷ XIII thời nhà Nguyên. Thuật ngữ “tứ hợp viện” xuất phát từ ý nghĩa cụ thể của tên gọi, bốn ngôi nhà bô’ trí theo các hướng bắc, nam, đông, tây, cùng có chung một sân vườn. Ngôi phía bắc mệnh danh “chính phòng”, nhằm khẳng định hướng chủ đạo của tứ hợp viện là từ bắc nhìn về nam, ngôi phía nam gọi là “đảo tọa”, hai bên đông tây mang tên “sương phòng”. Câu chuyện “Dưới mái tây hiên” (Tây sương ký) chính là câu chuyện tình nam nữ diễn ra trong ngôi nhà phía tây của loại nhà tứ hợp viện này. Người ta dùng tường vây liên kết tất cả các chính phòng, đảo tọa và đông, tây sương phòng thành một cụm nhà, quen gọi là viện. Kiểu kiến trúc đóng kín này chỉ mở một lối ra duy nhất ở góc đông nam, và quan niệm đó là cửa cát tường, may mắn nằm đúng vị trí “tốn” trong bát quái. Qua nhiều nãm, kiểu kiến trúc tứ hợp viện vừa phân cắt vừa liên kết này được cải tiến hoàn thiện dần và cuối cùng trở thành bố cục truyền thống của vương phu, cung đình. Tùy cấp độ khác nhau mà trong tứ hợp viện còn bố trí vườn hoa, hồ cá, hành lang, núi giả, thư phòng… xứng đáng là một giang sơn riêng biệt cho từng gia tộc.

Nhà “Tứ Hợp Viện” của các thân vương, quận vương ở Bắc Kinh, là kiểu làm bố trí cân xứng theo tuyến trục Nam – Bắc. Ngôi nhà chia làm 2 phần: Tiền viện có đại môn (thường là lệch về phía Đông – Nam chứ không đặt trên tuyến trục giữa), trong cửa có bình phong, làm cho người bên ngoài không thấy được hoạt động ở bên trong. Nhà Tiền viện là nhà khách và là nhà ở của nam giới. Từ Tiền viện muốn vào phải qua nhị môn trên tuyến trục giữa (có khi là cửa hoa trang trí vô cùng hoa lệ thường gọi là cửa Thùy hoa), rồi mới tới nhà bếp, nhà làm việc lặt vặt và nhà vệ sinh. Nội viện có diện tích lớn, xung quanh có hành lang, ngày mưa có thể qua hành lang mà không cần phải qua sân, để đi tới tất cả các nhà. Trong Viện trồng nhiều cây cỏ và đặt các chậu hoa, tạo thành không gian ở rất tĩnh mịch. Xung quanh nhà ở có lường hoa bao bọc, thường không có cửa sổ. Các nhà ở tứ hợp viện quy mô lớn thường có 4 sân ở trên trục giữa, tức là đằng sau nhà giữa còn có Hậu viện, hoặc trước cửa nhị môn lại có thêm một phòng lớn để làm nhà khách. Có khi, một nhà ở được bố trí hai tuyến theo trục giữa, hình thành một tổng thể với hai trục song song. Nhà ở loại lớn thường bô trí đối xứng nhau, xen kẽ với các vườn hoa rất ngoạn mục.

Nhà ở của tầng lớp trên đều trang trí rất hoa mỹ nhưng do hạn chế của chế độ đẳng cấp phong kiến, trừ một số rất ít quý tộc ra, còn không được phép lợp ngói lưu ly vàng, cửa và tường không sơn màu đỏ, các trang trí khác không được sơn màu vàng. Số lớn nhà cửa màu sắc rất trang nhã. Nóc nhà và tường nhà có diện tích lớn thường dùng ngói màu xám hay màu xanh, và thường cũng chỉ dùng vào đại môn, nhị môn, hay nhà lớn thôi. Cũng thường dùng nhiều loại gạch đẹp, nhất là để làm bình phong, tường đầu hồi nhà. Các cửa ra vào, cửa sổ và các bộ phận bên trong, về mặt trang trí thể hiện rõ cách bố cục rất khéo léo và đẹp, trình độ điêu khắc, khắc gỗ rất cao.

Nhà ở phương bắc, trong đó có nhà ở của Bắc Kinh, trong nhà thường có hầm để sưởi ấm. Hầm đắp bằng đất thành cái giường ngủ, sau đó mới xây gạch ở bên ngoài, mặt trên là tầng đất trộn với cỏ, rất dày và nhẵn bên trên có trải chiếu, hay trải thảm. Trong hầm sưởi có ống khói, thông ra ngoài nhà, bên cạnh hầm có cửa để đưa nguyên liệu vào. Đến mùa đông, hầm sưởi sau khi được tăng nhiệt rồi thì tỏa hơi ấm ra, trong nhà ấm mà không bị khói, loại sưởi này đến nay vẫn được sử dụng. Nhà ở bình dân ở Bắc Kinh và nhà ở của người lao động nông thôn, thì thường hay làrm mái bằng, đắp đất thó vàng trộn với xi măng. Cách làm đó kinh tế hơn so với làm bằng ngói và do làm rất dày, nên có tác dụng giữ ấm. Nhà mái bằng đắp đất thuộc các vùng phía tây bắc và tây nam là những vùng mà người Hán và dân tộc ít người đều sử dụng cả.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội giá 500 triệu