Vật liệu và phương thức xây dựng kiến trúc cổ và dân gian Việt Nam

Kiến trúc cổ Việt Nam

Vật liệu xây dựng kiến trúc cổ truyền Việt Nam , trước hết phải kế đến: cây tre, tre có mặt ở khắp nơi trên mọi miền đất nước: từ ven biển, đồng bằng đến trung du và miền núi. Cây tre Việt Nam không những nhiều về số lượng mà còn phong phú về chủng loại: tre ngà, tre tàu, tre vầu, hóp, luồng, mai, trúc, dang, nứa… Tre được dùng làm hàng rào quanh nhà, quanh làng để giới hạn diện tích và bảo vệ an ninh cho khuôn vào nhà cửa, làng xóm. Ngoài ra lũy tre xanh còn có tác dụng cải thiện khí hậu môi sinh, mát mẻ khi oi bức, che chắn khi gió bão và cồn là kho dự trữ vật liệu, nguồn lợi kinh tế cho gia đình ngưòi nông dân Việt Nam. Trong ngôi nhà ở dân gian cổ truyền đơn sơ và mộc mạc, tre được sử dụng là vật liệu chủ yếu để tạo dựng nên ngôi nhà, kết cấu bộ khung sườn chịu lực, cột, vì kèo, đòn tay, rui mè, cốt vách, phên dại, cửa đi, cửa sổ… cho đến những sợi lạt buộc, tre còn được dùng đế trang trí ngoại, nội thất ngôi nhả dân gian cổ truyền: dàn hoa leo, đồ đạc, giường, bàn ghế, chạn bát V. V… vả rất nhiều công cụ thường dùng trong đời sống của người Việt Nam .
Trước khi sử dụng làm nhà cửa, tre thường được xử lí qua ngâm tấm (phương thức truyên thống dân gian là ngâm trong ao bùn), để tránh mối mọt và dể dàng nắn thắng, uốn cong tùy theo yêu cầu cấu kiện. Kĩ thuật liên kết, mộng, ngoàm, con xỏ… của kết cấu tre chỉ cần những công cụ đơn giản: con dao sắc lưỡi, cây đục, cây chàng, cái cưa… dễ dàng trang bị trong đòi sống kinh tế nghèo nàn của nông thôn vói phương thức xây dựng chủ yếu là tương trợ, hợp tác của tình làng, nghía xóm vốn có từ lâu đời.

Vật liệu và phương thức xây dựng kiến trúc cổ và dân gian Việt Nam 1

Ngoài tre, gỗ là loại nguyên vật liệu xây dựng bền chắc hơn, cao cấp hơn được sứ dụng ớ những công trình kiến trúc cổ có yêu cầu quy mô đồ sộ, bề thê và tuổi thọ dài lâu hơn. Gỗ rửng có các loại gỗ quý và lí tưởng như: Đinh, Lim, sến, Táu (gỗ tứ thiết), thứ kém hơn như: Tràm, Chai, Dẻ, Re, Giồi, sồi, Mỡ, V. V… Trong các vườn nhà ở gia đình còn thường trồng và sử dụng gổ làm nhà có: Mít, Xoan… Kiến trúc cổ cung điện – dinh thự, kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng (Đình, Chùa, Miêu) còn tồn tại đến ngày nay phần lớn do sứ dụng các loại gỗ quý, chịu dựng được khí hậu nhiệt đới ác nghiệt qua nhiều thế kỉ, đồng thời cũng là sự so sánh tiêu chuấn cấp công trình. Gỗ chủ yếu sứ dụng làm bộ khung, sườn chịu lực với hệ thống cột vì, xả truyền lực toàn bộ mái và liên kết bằng mộng. Trong các công trình lớn và quan trọng, đế tránh mối mọt phá hoại: chân cột gỗ thường được kê bằng đá tảng, thân cột được phủ bằng sơn ta hay sơn son, thiếp vàng – chủ yếu do yêu cầu trang trí màu sắc trong nội thát vầ tính chất công trình – song củng có tác dụng chống ấm và bảo vệ gỗ rất tốt.
Nghề thủ công sản xuất nung gạch ngói và làm gốm, sành sứ của cha ông ta đả có tử lâu đời, vốn nổi tiếng khéo léo, thành thạo và có kinh nghiệm cổ truyền. Tử nhửng thế kỉ xa xưa, ông cha ta đã dùng gạch ngói để xây dựng các công trình kiến trúc cổ và dân gian. Với các di chỉ khảo cổ học. Những lò nung gạch ngói ớ Bãi Định vùng Luy Lâu – Thuận Thành – Hà Bắc (thế kỉ VII – X) những viên gạch xây thảnh có khắc chữ “Giang Tây quần”, “Đại Việt quốc quân thành chuyên” tìm thấy ở Hoa Lư (thế ki X), Thăng Long (thế kỉ XI) và gạch hoa lát sân nền cung điện vùng Tức Mạc – Hà Nam Ninh của thời Trần (thế kỉ XIV) V. V… chứng minh ông cha ta đã đạt tới một trình độ cao trong kĩ thuật sản xuất, xây dựng và trang trí bằng đồ đất nung. Gạch hộp có những viên kích thước khá lớn (dài 40cm, rộng 16cm, dày 13cm), ngoài ra còn có gạch múi bưởi (hình lưỡi búa) để chuyên xây vòm cuốn, phần lớn đều có độ nung già, màu sẫm có lẽ không kém độ bền chắc so với đá.

Gạch Bát Tràng hình vuông 30cm X 30cm, dày 5-6cm, có độ nung già, rắn chắc và màu nâu sẫm đẹp thường được dùng để xây trụ cột lát sân gạch và dựng tháp (mộ sư) trong một số kiến trúc chùa chiền. Gạch ốp ngoài dùng đồ trang trí mặt tường có chạm khắc hoa văn là trang trí hình học, mây nước, rồng phượng, vũ nữ, chim thú v.v… Khá phong phú và đẹp mắt cũng được sử dụng quen thuộc, điển hình như ớ tháp Bình Sơn – Vĩnh Phúc và các tháp Chàm còn lại đến ngày nay. Có những viên gạch được sản xuất với tính chất chuyên dụng như gạch có mộng, gạch góc thước thợ, gạch hình đa giác hoặc hình tròn V. V…
Ngói là loại vật liệu đất nung chuyên để lợp mái chống mưa thấm dột, che nắng nóng, bảo vệ công trình kiến trúc và hoạt động đời sống con người.
Trong các công trình kiến trúc nhà ở và nhà công cộng dân gian thường dùng ngói ta, ngói chiếu, ngói ống, ngói âm dương V. V… sản xuất theo phương pháp thu công cổ truyền, đơn giản dễ làm. Ớ một số công trình tôn giáo – tín ngưỡng (Đình, Chùa, Đồn, Miếu) còn có ngói vảy rồng. Ngói mủi hài kích thước lớn hơn, dày nặng hơn, có trang trí và kĩ thuật sản xuât phức tạp, công phu hơn. Một số kiến trúc cung điện, lầu các, lăng mộ… của triều đình phong kiến đã sử dụng gạch và ngói có tráng men (gạch và ngói Lưu Li) lợp, trang trí diềm mái, ốp mặt tường, tô điếm lan can… với màu vàng, màu xanh hoặc tráng sứ. Thời nhà Nguyễn, ở Long Thọ (Thửa Thiên) có những lò gốm chuyên sản xuất các loại gạch ngói men quý này nhằm phục vụ công việc xây dựng vùng Kinh đô Huế cho triều đình.

Vật liệu lợp mái – ngoài ngói bằng đất nung – đơn gián, sơ sài kinh tế hơn còn có các loại vật liệu bằng thực vật: rơm rạ (loại vật liệu dễ kiếm và phổ biến nhất ở vùng đồng bằng), cỏ tranh, lá cọ (lá gồi) và nứa (đan kết thành từng tấm). Ớ miền Nam nước ta, đất sét cũng được dùng để lợp mái nhà (trên các rui mè đố một lớp đất sét rồi lợp lá gồi, lá dừa nước… lên trên), loại mái này có tác dụng cách nhiệt và chống cháy rất tốt. Các vật liệu xây dựng kể trên thường được sử dụng kết hợp, tùy tình hình cụ thể của vốn đầu tư, điều kiện địa lí (địa phương) yêu cầu sử dụng và quy mô, tính chât cùng cấp công trình.