Vạn lý trường thành

Đô thị cổ Bắc Kinh

Bức tường vạn dặm này dài tới 6700 km nằm vắt ngang địa phận 6 tỉnh miền tây và bắc Trung Quốc, băng qua những vùng địa thế cực kỳ hiểm trở, núi cao, khe sâu, rừng rậm, bắt đầu được xây dựng từ thời Chiến quốc (420-221 tCn). Thời đó, các nước Yên, Triệu, Tần đã chọn những nơi hiểm yếu nhất đê xây thành nhằm ngãn chặn sự xâm lấn của các lân bang, đặc biệt là cua tộc Hung Nô. Tường thành của nước Yên ở phía tây, bắt đầu xây dựng ở Tạo Dương (nay là Độc Thạch Khấu, Hà Bắc), đến Liêu Đông ở phía đông. Tường thành của nước Triệu ở phía tây từ Cao Khuyết (nay là Lâm Hà – khu tự trị Nội Mông) kéo dài đến phía đông (Huyện Uỷ, Hà Bắc). Tường thành của Tần từ Lâm Triệu (nay là Cam Túc) qua Cố Nguyên đến tận Hoàng Hà.

Năm 221 tCn, Tần Thủy Hoàng tiêu diệt cả sáu nước Hàn, Triệu, Ngụy Yên, Tề, Sở, thống nhất cả Trung Nguyên. Vào nãm 215 tCn, Tần Thủy hoàng sai Đại tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân phản kích Hung Nô, thu lại phần đất phía nam Hoàng Hà và sau đó xây nối tiếp những đoạn thành mà các nước khác đã xây từ trước thành một dải, đồng thời gia cố thêm cho vững chắc hơn, công trình tiến hành trong mười năm mới hoàn thành. Dưới mưa tuyết và cái lạnh làm nước đóng băng ở miền bắc, dưới khí hậu khắc nghiệt của miền tây, qua những tháng ngày lao động cực khổ trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ mọi thứ, hàng vạn dân phu đã bị vùi xác nơi chân tường thành. Truyền thuyết còn ghi lại truyện nàng Mạnh Khương vợ nho sinh Phạm Kỷ Lương vượt qua hàng ngàn dặm đường mang áo rét cho chồng là dân phu xây đắp tường thành. Tới nơi, Phạm Kỷ Lương vì không chịu nổi cực khổ nhọc nhằn nên đã qua đời. Mạnh Khương nằm phục xuống chân tường thành khóc lóc thảm thiết, một đoạn tường thành nơi đó đã sụp đổ. Tới các triều Tây Hán, Bắc Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu, Đại Hán cho tới các triều Tùy, Đường, Tống, Nguyên, triều đại nào cũng tu bổ tôn tạo chovạn lý trường thành thêm vững chắc.

Vạn lý trường thành 1

Trường thành nhà Minh chỉ là mở rộng trên cơ sở của Trường thành cũ; phía Tây từ cửa Gia Cốc (Cam Túc) phía Đông tới cửa Sơn Hải (Hà Bắc), chiều dài khoảng 3000 km. Với tuyến phòng ngự dài như vậy, phải áp dụng cách làm từng đoạn. Trường thành lúc đó chia ra khoảng 9 đoạn, và 9 cửa ải. Gồm có: cửa ải Liêu Đông, Ngự Tuyên Phủ, Đại Đồng, Sơn Tây, Diên Thủa, Ninh Hạ, Cố Nguyên và Cam Túc. Chín cửa ải còn gọi là chín biên. Trong một số đoạn của Trường thành còn xây thêm thành ở trong và ngoài nữa. Như đoạn cửa ải Cư Dung, lúc bấy giờ rất gần Bắc Kinh, cần phải tăng cường phòng ngự đối với đoạn này; do đó đã xây làm 3 đường, gọi là “Tam biên”. ‘

Chọn đất để làm Trường thành rất quan trọng. Ngoài đoạn phía tây ra, còn tuyệt đại bộ phận Trường thành phải làm giữa các mỏm núi trùng điệp, có khí thế hiểm yếu. Chòi gác làm trên tường thành, cự ly xa gần không đều nhau, dưới tường thành leo qua bậc rồi mới vào chòi gác để tuần tra. Cửa thành là nơi đồn trú quân lính phòng ngự, phần nhiều là nơi tường thành dày, cửa thành làm cũng nhiều. Cửa ải Cư Dung có hai cửa thành, và làm theo địa hình. Ở Gia Cốc làm trên mỏm đồi cao, bình diện vuông vắn.
Vật liệu để xây tường thành có mấy loại: có đoạn xây bằng gạch, có chỗ xây đá hộc, có chỗ lại đắp đất, dùng nguyên liệu nào là tùy theo tính chất phòng ngự mà quyết định. Như đoạn cửa ải Cư Dung, về mặt phòng ngự rất quan trọng, cho nên chỗ này xây tường thành rất kiên cố vừa to vừa cao, cao 8,5 mét, chân tường 6,5 mét. vỏ ngoài tường thành xây gạch thoi dài, ở giữa nhồi đá hộc hay đất thó. Xây tường thành có 2 cách: chỗ nào độ dốc ít, thì gạch hay đá xây đều làm theo địa thế; còn chỗ nào độ dốc lớn, thì lại xây bằng. Thành có độ rộng lớn, lát đường đi bằng phang, để tiện cho hành quân, và việc phòng thủ.

Vạn lý trường thành là công trình kiến trúc tập trung nhiều lao động của nhân dân. Dù xây gạch, đá hay đắp đất, thành là một công trình hết sức đồ sộ. Trong điều kiện sản xuất thủ công lúc bấy giờ, kỹ thuật xây dựng còn non trẻ các vấn đề cấp gỗ, nhiên liệu, vận chuyển, tổ chức lao động đông đảo đòi hỏi phải có một nỗ lực rất lớn mới hoàn thành được. Điều đó nói lên sự hùng hậu của lực lượng kinh tế nhà Minh lúc bấy giờ; điều quan trọng hơn nữa là công trình đã thể hiện sức mạnh sáng tạo to lớn của nhân dân lao động Trung Quốc thời cổ đại.