Thành Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội

Kiến trúc cổ Việt Nam

Năm 1010 Lí Thái Tổ dời đô tử Hoa Lư về miền đất – điểm khởi đầu và trung tâm cua nền ván minh Đại Việt, trải qua nhiều triều đại với các tên gọi lẳn lượt là Thang Long, Đông Đô (Đông Kinh) vả Hà Nội ngày nay.
Trong “Chiếu dời đô”, mục đích và điều kiện định đỏ được nêu rõ: “… ở vào trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi… tiện thế núi sông sau trước… địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa… muôn vật rắt thịnh và phôn vinh…”
Kinh thành Thăng Long thời nhà Lí được tạo thành bới Hoàng thành và Kinh thành củng các trại. Tháng Long gồm nhiều vòng thành: Vòng ngoài cùng là La thành, vừa là lũy phòng ngự vừa là nơi ngăn lụt có độ dài khoáng 30 km, trong khu vực nàv là Kinh thành bao gồm nhiều phường phố, chợ búa … nơi ăn ờ buôn bán sán xuất thu công nghiệp cúa nhân dân và quan lại, Thăng Long thời Lí được tố chức có tới 61 phường.
Hoàng thành – đầu não của nhà nước vả triều đình phong kiến được xây dựng bằng gạch, bên trong lại có Gấm thành, nơi dành cho nhà vua và gia dinh ơ, sinh hoạt. Hoàng thành nhà Lí có 4 cửa: Tường Phủ – phía Đông, Diệu Đức – phía Bắc, Quáng Phúc – phía Tây và Đại Hưng phía Nam (Hoàng thành còn có tên gọi là Gung thành hoặc Long Phượng thành).
Nói chung 3 lớp vòng thành bao bọc lẩn nhau, tăng cường tính kiên cố, thế phòng ngự và sức bảo vệ cho công trình. Sau này nhà Tran tiếp ngôi nhà Lí, đồng thời tiep tục định đô ơ Thăng Long, có tu bố và xây dựng thêm thành Đại La và Kinh thành, song cơ bán không có biến đối gì lớn về bố cục kiến trúc và chức năng sứ dụng: cơ can kinh thành van là 61 phường, 4 chợ cưa Thành, và 13 trại san xuất nóng nghiệp.
Tới năm 1430, Lê Lợi – Lê Thái Tổ quét sạch quân Minh xâm lăng khỏi bờ cõi, khôi phục độc lập cho đất nước, lại đóng đô ở Thăng Long xưa và đổi tên gọi Đông Đô (cuối thời Trần) là Đông Kinh.
về kiến trúc thành lũy, thành Đông Kinh vẫn dựa trên cơ sở thành Thăng Long thời Lí Trần, đồng thời có sự bồi đắp và mớ mang vòng thành ngoài : Thành’Đại La (1477- Lê Thánh Tông), bên ngoài vòng thành Đại La trong thời Lê còn xây đắp một số hào lũy khác khi có chiến sự xẩy ra tại Đông Kinh. Hoàng Thành cung được củng cố tu bố vào những năm 1434 và 1500 (các tường thành phía Đông và phía Tây). Năm 1516, Hoàng Thành được mở rộng thêm về phía Đông “to rộng mấy nghìn trượng…” 4 mặt Hoàng Thành đều được xây bằng đá (duy có đoạn tường thành tử cửa Đông tới góc Đông Bắc là xây bằng gạch) và có xây “nữ tường” và ụ bắn (nữ đầu) trên mặt thành. Hoàng thành mở 3 cửa: cửa Đông, cứa Nam và cứa Báo Khánh (khu vực hồ Báo Khánh và Giáng Võ ngày nay), việc canh gác ra vào Hoàng Thành rất nghiêm mật. Vòng thành trong cùng – gọi là cấm thành hoặc Cung thành hay Phượng thảnh, xây theo hình chữ nhật, 4 mặt đều bằng gạch và chỉ mở 2 cửa: Đoan môn (phía Nam, đồng thời là cửa Tiền) và cửa Tây – phía Tây Bắc – đồng thời là cửa Hậu. Cả hai cửa đều được xây to đẹp, trên có lầu gác (vọng lâu), lính tuần canh thường trực.
Đông Kinh thời Lê được tổ chức lại với 36 phường, đường sá rộng đẹp, buôn bán sầm uất và công việc ngoại thương với nước ngoài có tiếng vang trên thế giới, có xu thế phát triển của một đô thị đã trưởng thành.
Nàm 1527, triều Mạc thay thế triều Lê – Đông Kinh (Thăng Long) là Đô thành cúa triều Mạc rồi của chính quyền vua Lê – chúa Trịnh. Năm 1588, nhà Mạc đắp thêm 3 lần lũy ngoài thành Đại La, song năm 1592 khi chiếm lại được kinh đô, quân Trịnh đả phá hủy hoàn toàn hệ thống phòng lũy nhà Mạc và đến nam 1749 chúa Trịnh Doanh mới dựa trên cơ sở Đại La cũ, đắp lại vòng thảnh ngoài gọi là thành Đại Đô. Hoàng thành và cấm thành thời Lê Trịnh hau như không có biến đổi lớn mà có phan sa sút hơn xưa’.
Thời Tây Sơn sau khi giải phóng Thăng Long khỏi ách chiếm đóng của quân xâm lược (12/1788-1/1789) vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng Long là thủ phu cùa Bắc thành, và đã cho tu bổ lại đoạn Hoàng thành bị sụt lớ từ cứa Đông Hoa (Cứa Đông) tới cứa Đại Hưng (Cửa Nam).
Năm 1802, sau thất bại của cách mạng Tây Sơn, nhà Nguyễn chuyển kinh đô về Huế (Phú Xuân) và phá bỏ Hoàng thành cũ năm 1803, xây dựng lại một tòa thành mới theo kiểu Vô băng, quy mô nhỏ hơn cho tương xứng vị trí là Trấn thành miền Bắc. Trail thành Thăng Long đời Nguyễn cơ bản có dạng hình vuông, chu vi khoảng 5km, tường thành cao trên 4m dày khoảng 16m, vật liệu xây dựng tường thành: phía clưới bằng đá xanh đá ong, trên bằng gạch hộp. Thành mớ 5 cứa và xây năm 1805: Bắc, Đông, Tây, Đông Nam và Tây Nam, nay chí còn lại di tích cửa Bắc. Bên ngoài môi cứa thành có “dương mã thành” là một loại công sự bảo vệ, có hào nước rộng chừng 16m tăng cường sức phòng ngự cho thành.
Năm 1835, Minh Mạng ra lệnh hạ thấp thành Hà Nội, tường thành chí còn cao trên 3m và cũng từ Tran thành biến đối lại là Tmh thành Hà Nội, quy mô cũng có phần hẹp lại. Thành Hà Nội mở 16 cứa ô và vẫn là một thành thị phát triển độc lập. phồn thịnh, sầm uất nhất là về phía Đông (khu vực quận Hoàn Kiếm ngàv nay).
Năm 1894-1897, sau khi đã xâm chiếm và đô hộ toàn bộ nước ta giặc Pháp đã san bằng thành Hà Nội đế xây dựng quy hoạch các đường phố ngày nay (thành xưa chí còn lại mấy di tích ít ỏi: nền và thềm bậc Điện Kính thiên, Cửa Đoan Môn, Cửa Bắc và Kỳ Đài – xây năm 1812…)