Sơ lược quá trình phát triển nền kiến trúc dân tộc cổ truyền Việt Nam – p2

Kiến trúc cổ Việt Nam

Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan 12 sứ quân, lên ngôi Hoàng đế – sáng lập triều đại nhà Đinh và đóng đô ơ Hoa Lư, kinh đô Trường Yên được-xây dựng trở nên một thành lũy kiên cố và là kinh đô kiến trúc quy mô đầu tiên của nhà nước phong kiến tự chủ. Sau ị khi cha con Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, Lê Đại Hành – Thập đạo tướng quân của nhà
Đinh đánh bại quân xâm lược nhà Tống vầ được Thái hậu Dương Ván Nga trao áo Bào kê vị ngai vàng và lại tiếp tục xây dựng mớ mang, cúng cố kinh đô Trường Yên (Hoa Lư) với nhiều công trình kiến trúc cung điện đáng kể còn ghi trong sử sách. Ngoài kiến trúc thảnh lũy và cung điện ở kinh đô, thời gian này kiến trúc Phật giáo khá phát triến, chùa tháp được xây dựng ngoài vùng Hoa Lư còn nhiều nơi khác trong nước Đại Việt lúc bấy giờ. Kiến trúc Đạo giáo, Nho giáo thòi kì này phát triển chậm do thế lực của Phật giáo lấn át trong triều đình cũng như ngoài xã hội. Kiến trúc dân gian qua ngàn năm Bắc thuộc và lại chiến tranh loạn lạc ảnh hướng đến đòi sống nhân dân do đó củng bị hạn chế rất nhiều không có gì biến đối quan trọng. Dâu sao, nền độc lập tự chú của dân tộc được cúng cố khá vững chắc và công cuộc xây dựng đất nước bước đầu được xây dựng qua 3 triều đại Ngô – Đinh – Trân – Lê đã đặt nền móng cho sự cường thịnh kinh tế vả nghệ thuật kiến trúc nay nó, phát triến mạnh mẽ sau này.
Triều Lí (1009 – 1225) với Lí Thái Tổ đã đưa công cuộc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn với việc rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (1010). Kiến trúc đô thảnh Thăng Long thể hiện rõ sự lớn mạnh về ý thức dân tộc, về khả năng xây dựng một đất nước độc lập tự chú hùng mạnh của nhân dân Việt Nam. Trong hoàn cánh như vậy, nghệ thuật kiến trúc nhất là kiến trúc cung đình đã phát triển vói một nhịp điệu chưa tửng có, trở thảnh một nhu cầu hết sức to lớn, vừa là yêu cầu xây dựng co sơ vật chất hùng mạnh cho kinh tế – trung tàm đầu não bộ máy cam quyền cua một nhà nước phong kiến độc lập tự chu, vừa là yêu cầu phát triển văn hóa, tinh than vươn lên thoát khói mọi sự ràng buộc cúa phong kiến Trung Hoa và cũng là do yêu càu cứa cuộc sống đế vương, củng CO uv lực cứa nhà Lí mới cầm quyền. Đất nước độc lập, tự do và đời sống thái bình, ấm no khiến cho việc xây dựng trong dân gian cung phát tnến hơn xưa cùng với nghề thu công nung gạch, ngói khá rộng khắp các địa phương cả nước. Đời Lí là giai đoạn thịnh đạt của Phật giáo ớ Việt Nam, Phật giáo chiêm ưu thè rõ rệt so với các tôn giáo khác, như Khống giáo và đạo Giáo; Các nhà sư vân giữ các vai trò quan trọng trong triều đình và bộ máy điều hành xã hội. Dạo Phật được truyền bá rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân vả có ảnh hướng sâu sac đèn đời sông xã hội, in dấu ấn trong mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Triều đình hoàng gia và các tầng lớp quý tộc phong kiến rất tôn sùng đạo Phật, nhiều người bó tiền ra dựng chùa, cúng ruộng cho nhà chùa và biết bao chùa – tháp đã mọc lên ớ khu vực kinh thành và khắp nơi danh lam thắng cánh của đạt nước. Hầu hết các ngôi chùa có quy mó lớn, quy tụ nghệ thuật cao đều do triều đình đầu tư nhân công xây dựng song lực lượng công cứa chủ yếu vẫn là quần chúng nhân dân lao động đương thời do lòng sùng tín đạo Phật và tinh thần tự hào dân tộc mà tự nguyện và phấn khới lao động xây dựng và sáng tạo nghệ thuật, làm nên nhiều công trình chùa – tháp cua Phật giáo, song các kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng khác như đền, miếu thờ các thánh siêu nhiên và các anh hùng dân tộc cũng do nền kinh tế thịnh vượng tạo nên điều kiện cho đời sông văn hóa tinh thần mọi mặt đều thịnh đạt nên cũng được xâv dựng nhiều hơn trước, đóng góp

Sau khi nhà nước Au Lạc bị suy vong và đất nước rơi vào vòng đô hộ lan thứ nhất của triều đình phong kiến phương Bắc, kéo dài hàng nghìn năm. Bọn thong trị ra sức áp bức, đàn áp nhân dân ta về chính trị, bóc lột thậm tệ về kinh tế và âm mưu hủy diệt nên văn hóa, văn minh “Lạc Việt” còn non trẻ; nghệ thuật văn hóa nói chung và kiến trúc nói riêng trong một bối cảnh lịch sử xã hội và thời gian quá dài như vậy, tất nhiên bị ảnh hưởng nhất định. Song với ý chí kiên cường, đấu tranh bất khuất giành quyền độc lập tự chủ về cho dân tộc, cho đất nước mà tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa vũ trang anh hùng, yêu nước của Hai Bà Trưng, Lí Bôn, Phùng Hưng, Bà Triệu v.v… Trong văn hóa nghệ thuật sự giao lưu cùng nền văn hóa, văn minh Trung Quốc củng vẫn cho chúng ta thấy rõ tinh thần và ý chí nói trên trong sự tiếp thu, lựa chọn và sáng tạo để cố gắng vươn lên, làm cơ sở cho sự phát triển rực rỡ sau này khi nước nhà phong phú cho bộ mặt kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng lúc bấy giờ. Văn Miêu – Qúôc Tư Giám của Nho giáo cũng là một trung tâm văn hóa to lớn thời kì này được xây dựng ơ kinh đô, đào tạo trí thức nhân tài phục vụ triều đình và nhà nước phong kiến lúc bây giờ. Nhửng đặc điếm của kiến trúc triều Lí thể hiện khá rõ nét tính chất chung của nghệ thuật kiến trúc dân tộc Việt Nam, vừa có tính chất sáng tạo độc đáo, lại vừa có tiếp thu những tinh hoa của các nước lân bang. Không chỉ riêng nước lớn Trung Hoa mả cả nước nhỏ như Chiêm Thành. Qua bàn tay khéo léo của nhân dân ta với nhiêu còng trình kiến trúc vả điêu khắc, trang trí nội và ngoại thất bộc lộ khả năng to lớn cua nhân dân Việt Nam, đồng thời đã mở ra những trang sứ tráng lệ của một thời đại văn minh huy hoàng.
Những năm đẳu thế kỉ XIII, nhả Lí suy vong và quyền lãnh đạo nhà nước chuyên giao sang thế lực phong kiến nhà Trần. Chế độ trung ương tập quyền được khôi phục và mọi cơ cấu xã hội cơ bản không có gì thay đổi. Nen độc lập dân tộc lúc bấy giờ bị giặc ngoại xâm đế quốc Mông cổ đang làm mưa làm gió trên các lục địa Á – Âu đe dọa nghiêm trọng. Tình hình đó thôi thúc nhân dân ta với tinh thần tự lực tự cường, tích cực xây dựng một đất nước giàu mạnh để giữ vững quvền độc lập, tự chú cho Tổ quốc. Nhà Lí khi lên ngôi đã dời từ Hoa Lư về Thăng Long và xây dựng một kinh đô và Hoảng Thành hoàn toàn mới, nhả Trần tiếp quyền nhà Lí đã có sẳn một cơ ngơi với hàng tràm cung điện lầu gác, chùa – tháp v.v…, tuy những năm triều Lí suy vi, do mâu thuẫn phe phái, một số công trình có bị hủy hoại song không đáng kế. Do tiếp thu và thửa hưởng được những tinh hoa của nền nghệ thuật dân tộc đang phát triến rực rỡ, kiến trúc thời Trần lúc đầu có nhiều nét gần gũi với kiến trúc thời Lí và không ngửng được củng cố, phát triển thêm lên. Đáng tiếc sau này, do 3 lần bị quân Nguyên – Mông xâm lược, đất nước nói chung và kinh thành Thăng Long nói riêng bị tàn phá nhiều đợt, kéo dài thời gian nhiều năm ảnh hướng lớn đến kinh tế dân sinh và tác hại nghiêm trọng đên sự phát triến của nghệ thuật kiên trúc. Trong thời Trân, ngoài kinh thành Thăng Long được xây dựng tử đời Lí Thái Tố (1010) nay tu sửa, mớ rộng; từ 1239 nhà Trần còn xây dựng trên quê hương Tức Mạc (ngoại thành Nam Định hiện nay) hàng loạt cung điện dinh thự, lầu gác để làm nơi ớ cho Hoàng tộc và ban thân nhà vua trở về khi đã nhường ngôi cho con vả trở thành Thái Thượng Hoàng. Thời nhà Trần, đạo Nho đã có ưu thế hơn xưa, các nhà sư đã nhường các vai trò cố vấn, tham mưu quan trọng trong triều đình cho các nho sĩ được đào tạo có hệ thống và tương đối quy củ. Song Phật giáo vân được coi trọng và kiến trúc chùa tháp của Phạt giáo vẩn được đầu tư xây dựng rộng khắp, đồng thời với việc trùng tu sửa chửa nhiêu chùa tháp có từ thời Lí qua chiến tranh bị tàn phá, hư hại hoặc thời gian phá huy. Bên cạnh kiến trúc chùa – tháp cúa Phật giáo, nhiều đền miếu cũng được tu bố, sưa chữa và xây dựng mới một số thờ các anh hùng, tướng lĩnh có công với đất nước và dân tộc trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược đã hi sinh. Đồng thời có một số đền, miếu khác xây dựng trong các khu Lăng – Mộ của triều Trần. Kiến trúc dân gian thời kì này như nhà ở, chợ búa, cầu quán vân phát triến đều đặn, đặc biệt loại hình kiến trúc “Đình làng” vừa mang tính chất kiến trúc công cộng dân gian lại củng có tính chát kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng xuất hiện ở thời kì này.