Sơ lược quá trình phát triển nền kiến trúc dân tộc cổ truyền Việt Nam – p1

Kiến trúc cổ Việt Nam

Qua các kết quả khai quật của ngành khoa học khảo cổ ở các di chỉ Bình Gia (Lạng Sơn) và núi Đọ (Thanh Hóa): con người nguyên thủy Việt Nam chú yếu sống trong các hang động và dùng tre nứa khai thác dễ dàng trong rừng núi bạt ngàn thời bấy giờ, đan dựng nên những tấm phên che mưa, chắn gió đế sinh sống trong thời kì manh nha tổ chức xả hội này. Tiếp theo, những dấu vết của thời kì đồ đá giữa và sơ kì đồ đá mới cũng đã được phát hiện trong nhiều hang động rất lớn rộng, có thế chứa tới mấy trăm con người, cho chúng ta biết thời kì bấy giờ ông cha chúng ta đã sống theo chế độ thị tộc nguyên thủy như các di chỉ khảo cổ học: Hang động ở Thấm Khuyên, Thấm Hai (Cao Bằng – Lạng Sơn) và Thâm Om (Nghệ An), hang Hùm (Lào Cai), hang Thung Lang (Hà Nam). Cũng vào thời kì này – 8 vạn năm đến 4 và 3 vạn năm trước đây, lối sống của con người ớ trong hang động còn biểu hiện một số ở những di chỉ ngoài trời qua các di chỉ khảo cổ được gọi là nền văn hóa Sơn – Vi ớ miền trung du (Lâm Thao – Phú Thọ).: ngoài loại hình kiến trúc các thành đất khá phát triển như Mê Linh (Hà Nội), Liên Lâu (Bắc Ninh) v.v .. đã xuât hiện thêm các công trình với vật liệu, kĩ thuật xây dựng mới : Kiên trúc băng gạch ngói, đất nung, vết tích và di chỉ cụ thể các kiến trúc bằng gạch nung còn lại với các ngôi mộ cổ thòi này, xây theo kiểu mộ Hai của Trung Quôc, kĩ thuật xây dựng và sản xuát khá điêu luyện.

Cũng vào thời kì này một loại hình kiến trúc mới là kiên trúc chùa tháp của Phật giáo đã xâm nhập và được xây dựng đế làm cơ sở truyền bá đạo Phật ở nước ta. Nho giáo cũng vào nước ta từ đời Hán, do đó Văn Miếu – Tự Miếu củng có thê xuất hiện từ lúc này, vì thờ Khổng Tử là một nguyên tắc thực hành và truyền bá Nho giáo. Song hiện nay không rõ còn một di chỉ Văn Miếu nào là đã được xây dựng từ thòi kì này nữa. Một số công trình kiến trúc có tính chất tôn giáo – tín ngưỡng nữa như các ngôi đền, miếu thờ những người anh hùng “có công với dân, vối nước” như Phùng Hưng, Hai Bà Trưng, Bầ Triệu v.v… cũng đã có từ lâu lắm, song chưa có cơ sơ kết luận chính xác thời gian xuất hiện loại hĩnh kiến trúc đền, miếu này có phải đã được tạo dựng từ thời kì đấu tranh chống đò hộ giải phóng dân tộc này hay không? Trong tình hình xã hội và chế độ chính trị lúc bấy giờ, nước ta là một quận huyện của nhà nước phương Bắc nên kiến trúc dinh thự các quan lại cai trị trên đất nước ta tất nhiên cũng được xây dựng một số. Song củng không còn lại dấu vết, di chỉ của loại hình kiến trúc dinh thự cụ thể để nghiên cứu kết luận hình kiếu và nghệ thuật kiến trúc; có thể phỏng đoán trong bối cảnh lịch sứ như vậy, kiến trúc trụ sở, dinh thự cũng chỉ tương tự các địa phương khác ở phía Nam Trung Quốc, lân cận nước ta. Nhà cửa dán gian thì lúc này tuy gạch ngói đã được sản xuất song còn là quý, hiếm; đồng thời đời sống nhân dân ta bị bóc lột đến “ăn không đủ no, mặc không đủ ấm”, kinh tế nghèo nàn; thợ giỏi thì bị cưỡng bức, trưng tập về bên phương Bắc nên gạch ngói trong kiến trúc dân gian cũng rất hạn chế, đa số nhà cửa cư dân vẫn là những ngôi nhà tranh tre, gỗ đơn giản sơ sài một số lả nhà nền đất, tường trát bằng đất hoặc “nhà tranh, vách đất” lả những hình thức kiến trúc dân gian phổ biến lúc bấy giờ. Với chiến thắng Bạch Đằng Giang lừng lẫy, Ngô Quyền lên ngôi vua trong thời gian không lâu (939 – 934) và lại đóng đô ở cổ Loa – Kinh thành cũ của Âu Lạc – An Dương Vương vả không xây dựng được công trình kiến trúc nào đáng kể ngoài việc sửa sang, tu bố và củng cố lại thành cổ Loa xưa. Tiếp theo là thời kì loạn 12 sứ quân, mỗi sứ quân xây dựng thành quách và cát cứ một địa phương để chống đối lẫn nhau làm cho xã hội phân quyền càng thêm rối loạn. Những ngôi thảnh thời kì này thường dựa vào địa thê thiên nhiên đe phòng ngự có tính chất quân sự là chủ yếu, quy mô thường nhỏ, vật liệu xây dựng chủ yếu lâ đắp bằng đất nói chung không có gì đặc biệt về nghệ thuật kiến trúc và mang tính chất địa phương, thể hiện uy thế cát cứ tạm thời.