Qúa trình thi công xây cất kiến trúc cổ truyền

Kiến trúc cổ Việt Nam

Trình tự xây dựng kiến trúc cổ truyền và dân gian Việt Nam theo phương thức truyền thống trải qua nhiều thủ tục và lễ nghi khá phức tạp.
Sau khi chuan bị đầy đủ nguyên vật liệu, lựa xong địa điếm và định dứt khoát hướng công trình thông thường việc trước tiên là phải chọn ngày lành, tháng tốt để làm lễ khởi công xây dựng (với nhà ở người ta còn tính số tử vi của gia đình đế quy định kích thước ngôi nhà) và mớ công trường. Công trường xây dựng ngôi nhà ớ dân gian đơn sơ, mộc mạc ở làng quê thường được tố chức với tình hữu ái giai cấp “tình làng nghĩa xóm” và biểu hiện quan hệ tốt đẹp trong sản xuất và hợp tác từ thủa nguyên khai của cộng đồng dân tộc Việt Nam . Công trình xây dựng cung điện, lăng tẩm của triều đình là sự tập trung, bóc lột nhân công và tri thức giữa giai cấp thống trị phong kiến với những người nông dân và lao động thủ công. Công trường xây dựng đình, chùa , đền, miếu … được mớ ra với sự tự nguyện đóng góp kinh phí, vật tư cùa nhân dân địa phương và hăng hái thi đua giữa các phường thợ. Với cốt cách chung là kết cấu truyền thống khung – cột – vì – xà và nhà không có móng do đó trình tự xây dựng được thế hiện qua 5 giai đoạn: phát mộc, động thổ, thượng trụ, thượng lương và nhập trạch, yên sàng.

Qúa trình thi công xây cất kiến trúc cổ truyền 1

1. Phát mộc: Vào giai đoạn “phát mộc”, chủ nhân và người thợ cá cùng chu trì tiến hành “lễ phát mộc” cúng thổ thần và tổ sư phường thợ cho phép bát đầu làm nhà. Cúng xong, người thợ cả lấy rìu đẽo vào một cây gỗ (trong số nguyên vật liệu dựng nhà) làm phép, lên rui mực thước tầm làm chuẩn mức, quan hệ tỉ lệ các bộ phận kết cấu, gia công các thành phần cấu tạo hệ khung cột – vì xà.
2. Động tho: lầm lễ “động thổ”, cúng gia tiên và thổ thần biết là chủ nhân sắp làm nhà mới để cầu mong sự phủ hộ an toàn trong quá trình xây dựng cũng như đời sống sau này. Đồng thời tiến hành cuốc nhát đầu tiên, đắp đất nền nhà theo kích thước đã được ngưòi thợ cả căn cứ vào “thước tầm” tính toán.
3. Thượng trụ: với hệ kết cấu khung cột – vì xà, công việc tiếp trên nền nhà đắp xong là dựng cột (cột cái, cột quân, cột hiên..), sau đó là vì xà – kẻ – bảy (nếu có) đế hình thành bộ khung sườn kết cấu ngôi nhà.
4. Thượng lương: là một khâu quan trọng, và gia chủ cẩn thận củng phải qua một “lễ thượng lương” (còn gọi là lễ cất nóc) tức là chọn ngày lành tháng tốt và phù hợp với tuối tử vi gia chủ đế đặt đầu nóc gian chính giữa ngôi nhà, thường người làm việc này được kén một người già, vợ chồng song toàn khoé mạnh, nhiều con lắm cháu và làm ăn khá giả. Neu vì xà kết cấu chưa chuẩn bị xong, chọn được ngày tốt người ta vẫn cứ tố chức lễ này nhưng dầm nóc được đưa lên vị trí và gá tạm bằng giá nạng, sau này cố định khi hoàn thiện các bộ phận cấu tạo phối hợp. Thường ở dầm nóc (Thượng lương) trong khi làm lễ người ta buộc 2 cành lá thiên tuế vào mảnh vuông vái điều có vẽ hình bát quái, ghi thần chú… củng là để cầu mong sự bình yên và thịnh vượng cho gia chủ.
5. Nhập trạch – yên sàng: Sau khi nhà hoàn thành, gia đình dọn vào ớ ngói nhà mới, kê đồ đạc và bắt đầu sinh hoạt đời sống và sản xuất bình thường. Trong nghi thức, có khi còn các lễ như: lễ an cư, lễ động sàng, lễ trả công thợ V. V… Nếu gói ghém tất cả đơn giản hơn cũng phải một “lễ hoàn thành” (lễ cài sào, cài rui mực lên dầm nóc), mừng nhà mới đã hoàn thành mời họ hàng làng xóm cùng tới dự.

Trong xã hội phong kiến cổ xưa, việc dựng nhà thật là tốn kém và phiền phức – đó cũng là một nguyên nhân khiến cho kiến trúc nhà ớ dân gian chậm phát triển và đối mới. Ngày nay đời sống người nông dân khá giả hơn, những lễ nghi kiêng cữ phong kiến cổ xưa, ràng buộc phức tạp củng dần thay thế bới những tập quán đời sống mới, hợp tác tương thân tương ái trong quan hệ xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, nông thôn Việt Nam đang dần đối mới với những ngôi nhà ớ tiện nghi và phong trào “ngói hóa” rộng khắp các xóm làng.
Chúng ta tìm hiểu và thừa kế những kinh nghiệm đã đúc kết có tính dân gian truyền thống trong phương thức xây dựng kiến trúc cổ xưa nhằm giữ gìn và phát huy những tinh hoa và sắc thái dân tộc độc đáo vốn có từ ngàn xưa song củng biết chọn lọc, lược bỏ những thói quen lỗi thời, những hù tục phiền phức và lãng phí được sán sinh trong bối €ầnh xả hội phong kiến lạc hậu nay không còn phù hợp với thời đại và cuộc sống ngày nay. Việc chọn lọc, thừa kế những cái hay cái tốt đế giữ lại trong kiến trúc nông thôn Việt Nam đả là một quá trình liên tục đáng khích lệ. Nhà ớ dân gian vùng đồng bằng, vùng miền núi ngày càng có những cải biến mới về kết cấu, và sứ dụng vật liệu đế tiết kiệm gỗ, xây dựng đơn giản và có phong cách giản dị, chân phương hơn. Hình thức bên ngoài cũng phóng khoáng, thoáng đãng hơn những ngôi nhà bưng bít, kín đáo và thiếu không khí, ánh sáng ngày xưa.