phuong thuc ket cau va cau tao xay dung trong kien truc co truyen viet nam 53ce10d471198 - Phương thức kết cấu và cấu tạo xây dựng trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam

Phương thức kết cấu và cấu tạo xây dựng trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam

Kiến trúc cổ Việt Nam

A. Kết cấu đất
Ông cha ta đã sử dụng tử xa xưa trong kiến trúc thành lũy (Thành cố Loa, Thành Đại La – Hà Nội V. V…), nền nhà trong kiến trúc cổ và tường bao che hoặc chịu lưc trong kiến trúc dân gian. Đất là vật liệu thiên nhiên, đâu cũng có, dề dàng và chỉ cần những công cụ thô sơ cũng có thể khai thác, gia công và xây đắp dược. Điều hạn chế lớn nhất là cường độ thấp, thấm nước và bị xói lở, hóa mềm khi mưa gió, lũ lụt (đế khắc phục các nhược điểm này, kinh nghiệm cổ truyền trong sử dụng công trình kết cấu đất là phải xây dựng ở những nơi khô ráo, đầm chặt đế chống tham và sau này người ta đã nung chín thành gạch, ngói). Kết cấu đất có hai loại: kết cấu liền khối và kết cấu xây, kết cấu liền khối có đất nện và đất đắp (nền nhà hoặc tường trình đât đắp có nơi còn trộn thêm rơm, vỏ sò v.v…) còn kết cấu đất xây thường là gạch mộc (không nung) và các loại gạch hỗn hợp.
Từ những phương thức kết cấu đất cổ truyền, ngày nay vẩn còn được xây dựng phố biến ớ các miền đất nước trong các ngôi nhà ở dân gian nòng thôn và ven thị, Ngành xây dựng Việt Nam đã khai thác, kế thừa và ứng dụng để góp phần đô thị hóa nông thôn ở các vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Tây, Hòa Bình, Làm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh v.v… trong kiến trúc nhà ơ và cả một số công trình công cộng (kho tròn rơm đất chứa lương thực…)
B. Kết cấu tranh, tre, nứa, lá
Tre, bao gồm cả: bương, vầu, nứa, trúc V. V… có độ chịu lực kéo tử 350 – 1200kg/cm2, chịu nén trên dưới 300kg/cm“, chịu nén uốn từ 300 – 550kg/cm2 với kích thước cây dải từ 9 – 18m (chiều dài sứ dụng) đường kính 6 – 12 – 20 – 26cm. Với những tính năng kĩ thuật nói trên, tre là một loại vật liệu xây dựng được dùng phổ biến trong xây dựng dân gian tử hàng ngần năm nay. Kĩ thuật trông, khai thác, ngâm tẩm chống mối mọt của ông cha ta đối với cây tre cũng có nhiêu biện pháp xử lí truyền thống, khiến tuổi thọ công trình kết cấu tranh, tre, nứa lá có thế bền vững tới 40 – 50 năm. Trong các ngôi nhà nông dân Việt Nam , người ta còn sứ dụng gỗ vườn ( sẳn có, trồng ớ vườn nhà như xoan, mít, sung và xà cử, bạch đàn v.v…) để phối hợp củng kết cấu tre. Ngôi nhà tranh, tre, nứa, lá và gỗ vườn là hình anh quen thuộc đến thân thương, mộc mạc và bình dị, đâu đâu cúng thấy, cũng gặp trong các làng xóm Việt Nam .
Do những hạn chế về kinh tế, kĩ thuật nên loại hình kết cấu này thường có các nhược điếm sau: quá đơn giản không hợp lí về mặt chịu lực, liên kết lỏng lẻo, dê bị mục nát (phần chôn xuống đất hoặc tiếp xúc với mưa nắng) nhất là dề cháy, dễ nứt vỡ. Trong xứ lí và lựa chọn cấu kiện người ta ít khi dùng tre làm cột (chịu nén) mà chú yếu làm những thanh chịu kéo trong vì kèo.

Phương thức kết cấu và cấu tạo xây dựng trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam  1

C.Kết cấu gạch, ngói, gỗ, đá
Đâv là loại hình kết cấu tương đối điển hình và sử dụng rộng khắp trong các công trình kiến trúc cổ Việt Nam tương đối quy mô, bề thế, như cung điện – dinh thự, đền đài, đình, chùa V. V… Một số công trình kiến trúc công cộng dân gian và nhà ớ khá gia củng dùng các loại vật liệu và phương thức kết cấu xây dựng này, thế hiện cụ thê bao gồm các thành phần: mái ngoài, hệ khung sườn gỗ, tường gạch (có móng hoặc không có móng gạch, đá), trong đó hệ khung sườn gỗ là hệ thống kết câu chịu lực chú yêu của công trình kiến trúc được hợp thành bới kèo (ké, bảy hay con chống), cột và xà (dầm). Tùy từng dân tộc, từng địa phương người ta tạo dựng những hệ khung sườn và vì kèo truyền thống quen thuộc, có đặc điếm riêng biệt của “Thức kiên trúc”.
Trong kiến trúc cổ Việt Nam , hệ khung sườn và các vì kèo gỗ không mấy khi sư dụng một số cột lẻ (3 hoặc 5) mà thường dùng số chẵn (4 hay 6). Trong trường hợp 6 cột ta có: 2 cột cái, 2 cột quân và 2 cột con (hay cột hiên), trong trường hợp 4 cột thì cột quân cũng là cột hiên, sau này trong nhà ở dân gian mới làm “cột trôn” và phát triển loại nhà không cột (vì kèo gối trực tiếp lên tường chịu lực) đế tiêt kiệm gô ngày càng khan hiếm. Với vì kèo, từ đơn giản tới phức tạp có tới hàng chục loại khác nhau, song lại chỉ có 3 loại vì kèo cơ bản kẻ truyền, chồng rường và chồng rường giá chiêng, còn các loại khác đều chỉ là sự biến thể của 3 loại chủ yếu, cơ bán nói trên trong đó vì kèo kẻ truyền tiêu biểu cho truyền thống kiến trúc có 6 hàng cột. Các cột được nối với nhau bằng “câu đầu” và “xà nách”. Trong vì kèo chồng rường hoặc chồng rường giá chiêng thì trên “câu đầu” và “xà nách” là những cái “rường” tức là những đoạn gỗ xếp chồng lên nhau, đoạn trên ngắn hơn đoạn dưới, xen kẽ lầ những đòn kê hay cái đấu, toàn bộ tố hợp lại thành một hệ kết cấu đỡ trọng lượng mái và truyền lực xuống các hàng cột, qua các hòn tảng kê chân cột, xuống nền nhà. Neu trên câu đầu là hai cột nhó đỡ một cấu kiện nằm ngang (gọi là bắp quả hay con lợn) hình thành một cái giá treo chiêng thì ta có: vì kèo chông rường – giá chiêng. Cái báv chỉ xuât hiện trong hai loại vì kèo chồng rường hoặc chồng rường giá chiêng, là đoạn gỗ nối cột hiên với diềm mái, một đầu chịu sức đè của xà nách. Còn “kẻ” thì kéo dài từ nóc ra hiên và có nhiều tên gọi l^hác nhau: kẻ ngôi, kẻ hiên, kẻ suốt, kẻ góc, kẻ moi… Khi chọn gỗ làm khung cột, vì kèo người ta ưu tiên thứ nhất cho cột, cho câu đầu, xà và sau đó là kẻ bảy V. V…