Những công trình kiến trúc Nho giáo

Kiến trúc cổ Việt Nam

* Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội)
Xây dựng trên một khu đất rộng khoảng 70m dài khoảng 350m ở phía Nam, kinh thành Thăng Long thời Lí, được khới dựng năm 1070 (năm Thần vũ thứ hai đòi vua Lí Thánh Tông), năm 1076 Lí Nhân Tông mở rộng xây thêm Quốc từ sau Văn Miếu, năm 1156 Lí Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử . Sang thời Hậu Lê, nho giáo rất thịnh đạt, các môn đệ của Khổng Tử rất được coi trọng nên năm 1484, Lê
Thanh Tông cho dựng bia những người thi đỗ tiến sĩ từ khóa thi 1442 trớ đi, năm 1762 Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình, năm 1785 đổi làm nhà thái học. Năm 1802 Gia Long nhà Nguyền ấn định đây là Văn Miếu – Hà Nội, xây thêm Khuê Văn Các. Từ đó đến nay trải qua bao thời gian, thế sự thang trầm, kiến trúc khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám bị suy vi mất mát và qua nhiều lần trùng tu sửa chữa, không còn nguyên vẹn như xưa.
Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hả Nội được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo một trục Bắc Nam, mô phỏng tống the quy hoạch khu Văn Miêu thờ Khổng Tử ớ quê hương: Khúc Phụ – Sơn Đông – Trung Quốc, được xây dựng từ thời nhả Hán (thế kỉ II – thế kỉ I trước công nguyên). Song xây dựng trên đất nước Việt Nam, lúc đó lả một nước nhỏ mới dành lại được độc lập tự chủ, kinh tế còn non yếu và do những người thợ Việt Nam xây dựng nên tuy quy mô nhỏ hơn, kiến trúc’đơn gián hơn song lại theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc nên vẫn có những đặc sắc riêng biệt (Văn Miếu – Khúc Phụ của Trung Quốc xây dựng trên khu đất dài 630m, rộng 140m và bao gồm một hệ thống công trình lớn nhỏ)

Những công trình kiến trúc Nho giáo  1

Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, xưa gọi là Thái Hồ, dan dần bị lấp và thu nhỏ hẹp lại. Giữa hồ có gò Kim Châu, xưa có lầu để ngắm cảnh.
Ngoài cống chính có một dãy 4 cột trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực xây tường cao vây quanh, cống Văn Miếu xây kiểu Tam Quan (trụ cổng và Tam Quan tương tự đền Trấn Vũ (Hả Nội) trên có 3 chữ lớn “Văn Miếu môn” kiểu chữ Hán cố xưa.
Trong Văn Miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tưòng ngăn cách và cống đi lại liên hệ với nhau.
– Khu thứ nhất: tử Văn Miếu môn đến Đại trung môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành đức môn và Đại tài môn.
– Khu thứ hai: từ Đại trung môn vào đến Khuê Văn Các (xây năm 1802). Khuê Văn Các là một công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỉ lệ hài hòa đẹp mắt, kết hợp giữa kiến trúc các trụ gạch bên dưới đỡ tầng gác phía trên bằng kết cấu gỗ khéo léo. Táng dưới gôm 4 cột trụ gạch vuông: 85cm X 85cm và bỏ trống, khoảng cách các cột là 4ml5 và nền hình vuông 6m80 X 6m80. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái nhưng mặt mái, gờ mái đều phang và toàn bộ công trình có phong cách nhẹ nhàng, khoáng đạt rất ăn ý với bối cảnh thiên nhiên* biểu đạt được ý nghĩa công trình: vẻ đẹp sao khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học và Khuê Văn Các thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa cho đến ngày nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dân vào hai khu nhà bia các tiến sĩ.

– Khu thứ ba: gồm hồ nước “Thiên Quang tỉnh” (giếng soi ánh sáng mật trời), hình vuông vầ mặt nước luôn soi bóng gác Khuê Văn duyên dáng. Hai bên hồ là hai khu nhà bia tiến sĩ, mỗi bia là một công trình điêu khắc đá đặt trên lưng rùa, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Báng nhản, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến si trong môi khoa thi bắt đầu từ năm 1442 đến năm 1779. Theo các tài liệu sứ học: nhà bia thời vua Lê Thánh Tông gồm 10 nóc cao hơn 3 thước, năm 1786 do hậu quả chiến tranh “bia thì đạp đổ tung hoành, nhà bia bị đốt tan tành ra tro”, năm 1863 trùng tu lại gồm 2 tòa 11 gian và còn lại 82 tấm bia Tiến sĩ.
– Khu vực thứ tư: lầ khu trung tâm và kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm 2 công trình lớn bố cục song song, nối tiếp nhau: Tòa ngoài là nhà Bái đường (cùng làm nơi tế lễ), tòa trong là Thượng cung (thờ Khống Tử) trước Bái đường là sân rộng, phía ngoài là Đại thành môn, hai bên tả hữu là Ngọc châu môn và Kim thành mòn. Kiến trúc hai bên sân gạch rộng là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, mỗi dãy 9 gian nguyên xưa thờ “Thất Thập Nhị Hiền” (72 học trò giỏi của Khổng Tử và các danh nho Việt Nam như Chu Văn An, Trương Hán Siêu V. V…).
– Khu vực thứ năm: là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khống Tử liên hệ với khu vực thứ tư phía trước qua Khải thánh môn và ớ phía sau thượng cung. Thời kháng chiến chống Pháp, khu vực Khái thánh và các dãy nhà Tả Vu và Hữu Vu bị phá hoại nghiêm trọng và nay khu Khải thánh chỉ còn lại vết tích nền xưa.
Theo các tài liệu và thư tịch cổ: dưới thời vua Lê Thánh Tông khoang những năm 1483 – 1484, nhà vua và triều đình đã xây dựng lại Văn Miếu, mớ mang Quốc Tứ Giám thành một khu học xá rộng lớn chưa tửng có trong lịch sử xả hội phong kiến nước ta: nhà chính của Văn Miếu là điện Đại Thành thờ Khống Tử, 3 gian 2 chái lợp bằng ngói đồng, hai bên là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu gồm mỗi dãy 7 gian, đằng sau có cửa nhỏ 1 gian; điện Canh Phục: một gian 2 chái, là nơi túc trực trước khi tế lể và củng là nơi vua thay áo để vào lễ; nhà bếp hai gian, kho chứa đồ tế lễ 3 gian, 2 chái; Nhả Thái học là trụ sở chính của nhà trường gồm 3 gian lợp bằng ngói dong, đằng sau có cửa Thái học và tường nhà ngang; hai dãy nhà bia Tiến sĩ mỗi dãy 12 gian; nhà khắc sách gồm 4 gian và cửa ngoài 1 gian; cửa hành mã (lối ngựa vào được) ớ phía tường ngang gồm 3 gian; nhà Minh luân: 3 gian 2 chái; nhà Giảng đường: hai dãy mỗi dãy 14 gian; nhà Minh luân phía đông 3 gian; kí túc xá cho các nho sinh ớ hai bên nhà Thái học: mỗi bên 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian cho 2 người ở V. V…