mot so kien truc lang mo tieu bieu qua cac trieu dai p2 53ce10768bbed - Một số kiến trúc lăng mộ tiêu biểu qua các triều đại - P2

Một số kiến trúc lăng mộ tiêu biểu qua các triều đại – P2

Kiến trúc cổ Việt Nam

* Lăng Minh Mạng (Hiếu lăng)
Dựng trên núi cẩm Khê, gần ngã ba Bằng lăng nơi gặp nhau của 2 dòng nước hợp thành sông Hương, cách Huế 12km. lăng có diện tích rộng 18ha, xung quanh có La thành bao bọc, diện tích cấm địa 475ha bố cục trung tám là một đường thần đạo, xuyên qua lần lượt các công trình kiến trúc kiểu thức đa dạng vào tận cùng là đến Bửu thành. Cửa chính của lăng là Đại Hồng môn, hai bên có 2 cửa Tả Hồng môn và Hữu Hồng môn, qua đó vào đến sân chầu có hai hảng tượng đá các quan văn, quan võ, voi, ngựa và 2 con nghê đồng. Tiếp đó là nhà bia rồi sân tế rộng dài 3 lớp đưa đến Hiến đức môn trước điện Sùng Ân thờ vua Minh Mạng và Hoảng hậu. Sau điện thờ là hồ Trừng Minh với 3 nhịp cầu đá dẫn đến Minh Lâu, trang trí khá tinh xảo, sau Minh Lâu có hồ Tân Nguyệt và cầu Thông Minh Chính Trực đưa đến Bửu thành – nơi đặt phần mộ nhà vua. Ngoài ra xen lẫn hai bên trục thần đạo còn các kiến trúc nhỏ: Đình Điếu ngư, Gác Nghênh phong, Hiên Tuần lộc, Tạ Hư hoài, sỏ Quan lan v.v… khiến cho quần thể kiến trúc khu lăng tuy đối xứng, uy nghiêm song vẫn hài hòa với thiên nhiên và duyên dáng tráng lệ.
* Lăng Tự Đức (Khiêm lăng)
Xây trên núi Dương Xuân, tả ngạn sông Hương cách Huế 8km nằm theo hướng Tây Đông. Đây là khu lăng có bố cục tổng thể hài hòa và cảnh trí thiên nhiên rất đẹp, nên thơ độc đáo hơn tất cả các lăng tấm khác ở Huế, lăng nằm giữa một rừng thông bát ngát. Tự Đức đặt tên gọi “Khiêm làng” (lăng mộ của sự khiêm tốn) song củng còn tên gọi “Vạn niên cơ” (cái nền cùa sự tồn tại dài lâu) các công trình và thành phân kiến trúc trong lăng đều dùng chữ “khiêm ’. Xung quanh lăng là la thành bao bọc, có diện tích đất cấm tới 225ha. Khác với lăng Minh Mạng, bố cục lăng Tự Đức không có trục thần đạo và đăng đối, qua cửa Vụ Khiêm môn là một đường chính chạy quanh co xuyên suốt. Bên phải là hồ Lưu Khiêm trong hồ có Khiêm đảo, ven hồ dựng hai nhà thúy tạ: Dũ khiêm tạ (nơi hứng gió và bến thuyền rồng) và Xung khiêm tạ (nơi đọc sách, câu cá). Đối diện với Dũ khiêm tạ là Khiêm cung môn dẩn vào khu quần thế kiến trúc đền thờ: điện Hòa khiêm – thờ Tự Đức và Hoàng hậu, sau đó là điện Lương khiêm – thờ bố mẹ Tự Đức, bên phải các điện thờ là Minh khiêm đường, bên trái là Ôn khiêm đường. Phía sau đăng đối hai bên là Trùng khiêm viện và Dụ khiêm viện, kết thúc quần thể kiến trúc khu điện thờ là giả sơn vầ bình phong “Tứ linh”. Bên phai khu điện thờ là khu phần mộ cũng bố trí đối xứng cục bộ: ngoài cùng là Bái đình (sân chầu) và nhà bia đồ sộ (bia bằng đá cao 4 m rộng 2m25 chạm trố rông phượng khá tinh vi), hai bên có 2 trụ hoa biểu, sau đến hồ Bán Nguyệt là Tiếu khiêm trì và tận cùng là “huyền cung” (nơi có mộ giả của Tự Đức).
Tự Đức là một ông vua song còn là một nhà thơ, do đó vẻ đẹp của làng Tự Đức trong khung cảnh rửng thông xanh, hồ biêc, kiến trúc nhỏ xinh duyên dáng khiên cho kiến trúc và thiên nhiên quện vào nhau một cách hài hòa, điếm xuyết cho nhau thêm phần tươi đẹp và đưa nghệ thuật quy hoạch kiến trúc và tạo hình tạo cảnh lên thành một kiểu mẩu hiếm có trong lịch sử kiến trúc dân tộc. Song khi xây dựng công trình này, Tự Đức đã huy động khá tốn kém sức người, lực của khiến quần chúng nhân dân bị áp bức bóc lột thậm tệ đã bất mãn và phan ứng, nổ ra cuộc khới nghĩa làm lung lay ngai vàng Tự Đức (1886) và ở Huế còn lưu truyền câu ca dao:
“Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân”

Một số kiến trúc lăng mộ tiêu biểu qua các triều đại - P2 1

* Lăng Khải Định (ứng lăng)
Vị trí trên núi Châu E, cách Hue 10km, tống mặt bằng hình chữ nhật dài lllm, rộng 49m so với các lăng triều Nguyễn trước đó có diện tích nhó hẹp nhất, song xây dựng công phu, tiền của và đòi hỏi thời gian nhiều nhất.
Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ (đầu thế kỉ thứ XX) nước ta đa hoàn toàn rơi vào vòng đô hộ cúa thực dân Pháp, kiếu thức và kĩ thuật, vật liệu xâv dựng phương Tây đã xâm nhập phố biến ở Việt Nam, do đó khác hẳn với các lăng mộ cua cha ông vân xây dựng theo phương thức và vật liệu truyền thống dân tộc. Lăng Khải Định sử dụng hau hết là bê tông sắt thép và sành sứ nhiều màu, phong cách kiến trúc Au nhiều hơn A và hoàn toàn tách rời vối khung cảnh thiên nhiên ớ xung quanh. Các công trình kiến trúc chủ yếu trong lăng như: Điện Khải thánh, Cung Thiên định cùng với cứa Tam quan, nhà bia, trụ biểu, nhà phụng trực, nhà quan cư v.v… đều là những công trình pha tạp Âu – A. Mái Thiên định cung được lợp bằng ngói đá đen (Arđoise) tử ‘Mẩu quốc” đưa sang, trên đỉnh có gắn cột thu lôi, bên trong cung có tượng Khai Định bằng đồng mạ vàng, trong lăng còn bắc cả hệ thống chiếu sáng đèn điện và các tầng sân lát gạch ca rô… ảnh hưởng kiến trúc châu Âu thật là rõ rệt. Khối lượng lớn xi măng sắt thép vận chuyển từ Pháp sang, sành sứ loại tốt phải đặt tận bên Trung Quốc, một số khác vận chuyển từ miền Bắc vào và thậm chí có cả mảnh chai “rượu tây”. Tuy củng được bố cục theo phương thức có đường trục xuyên tâm và đôi xứng, song mật độ kiến trúc dày đặc, không có hồ nước, thiếu cây xanh… khiến cho quan the công trình kiến trúc trở nên khô khan, trơ trọi, tuy cũng đủ thành phần chủ yếu như các lăng tấm khác trong xứ Huế. Song giá trị nghệ thuật của lăng Khải Định lầ kì thuật tinh xáo trong trang trí nội thất, kết hợp điêu khắc vầ hội họa khá khéo léo tài tình. Các tác phẩm phù điêu khảm bằng sành sứ pha trộn mầu sắc đẹp, hài hòa trang nhã và sinh động, thể hiện nhiều đề tài và hoa văn truyền thống: cỏ cây, hoa lá, bát bứu, tứ linh, tứ quý v.v… gợi cho người xem nhiều hứng thú thấm mĩ. (Vân đề đánh giá nghệ thuật trang trí nội thất trong lăng Khải Định còn có một số ý kiến chưa nhất trí, trong hoàn cảnh và điều kiện chính trị xã hội lúc bấy giờ và với kiến trúc ngoại lai, vật liệu pha tạp nói trên; trang trí nội thất trong lăng Khải Định củng chỉ lả những biếu hiện của sự phô trương, hình thức lố lăng và đua đòi, chỉ đưa đến xa hoa tốn kém và lãng phí. Song dù sao đó cũng là những vấn đề cách tân, tìm tòi mới mẻ của những nghệ nhân và những ngưòi thợ thủ công đất nước ta ở Huế đầu thế kỉ XX).
Ngoài những công trình lăng tẩm ở Huế, thời Nguyễn còn để lại công trình lăng bà nội Gia Long ở Duy Xuyên (Quảng Nam) xây dựng bằng đá mộc mạc, chân thực và gân gũi với kiên trúc dân gian.