Lựa chọn vị trí và hướng công trình

Kiến trúc cổ Việt Nam

Công việc lựa chọn vị trí và hướng công trình kiến trúc cổ truyền Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt và liên quan đến nhiều yếu tố: khí hậu – địa lí, phong tục tập quán dân tộc, thuyết phong thủy địa lí và yêu cẩu sử dụng của công trình.
Trong xây dựng kinh đô: cổ Loa của nhả nước Âu Lạc. Khi đất nước đã mớ rông từ vùng núi, trung du về đồng bằng: có thế đất tứơng đối cao ráo, giao thông đường thủy thuận tiện. Hoa Lư thời Đinh – Tran Lê có thế núi hiếm trơ, thuận lợi cho quốc phòng, lợi dụng được địa thế thiên nhiên không tốn kém vật liệu, công sức lại thêm tính kì vĩ, hữu tình của một khu thắng cảnh. Thăng Long được Lí Thái Tố lựa chọn vì: “… có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư đông đúc và không bị ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh…” thuận tiện xây dựng và phát triển kinh tế cho Nhà nước. Đặc biệt hưng thịnh, đồng thời còn gắn liền với truyền thuyết “Rồng bay lên” đế chứng minh vị trí kinh đô là nơi xứng đáng. Huế là kinh đô triều Nguyền với các lí do: “Dân tình Thăng Long kiêu bạc, ở Phú Xuân dân số đông đúc, phong tục thuận lương, các Thánh (tức Chúa Nguyễn) đã đóng đô ở đây: Phú Xuân ở gần nước, con đường đi về triều cống khắp nước cân nhau; hình thế địa lí phù hợp với quan niệm phong thủy, có núi trước án, có sông bao quanh, có đảo ở hai bên tả, hữu v.v… địa thè quân sự vững vàng, có biển trước, núi sau, thuận tiện cho cả lúc bình thời cũng như khi hữu sự…”
Trong kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng: vị trí xày dựng cóng trinh cũng đều là những mảnh đất có địa thế tiện lợi cho nghi lễ, rước hội; phối kết với khung cảnh thiên nhiên hài hòa, đẹp mắt “sơn thủy hữu tình” và thu hút lòng người. Kiến trúc chùa chiền thường được xây dựng trên các triền núi, lấy núi làm chô dựa hay nơi danh lam thắng cảnh du lịch, thiêng liêng phù hợp đạo Thiều, hoặc ở đồng bằng củng phải là nơi cao ráo hơn xung quanh dù là chút ít. Kiến trúc đền, miếu thường được lựa chọn nơi xây dựng có liên quan tới truyền thuyết hoặc công tích của nhân vật tôn thờ. Kiến trúc đình làng là bộ mặt của làng xã nên tạo dựng ngay trên một khu đất tương đối bằng phẳng, rộng rãi, gắn liền thôn xóm. Kiến trúc lăng tẩm mộ táng phẩn lớn đặt ở những nơi có thế đất, thế núi, thế sông… của thuyết phong thủy địa lí V. V… Hướng công trĩnh đình – đền – miếu – lăng mộ không nhất định, tùy thế đất song thông thường là theo trục Bắc – Nam; Chùa thường nhìn về hướng Tây (xứ Tây Trúc – qua hướng của Phật giáo) còn các tháp Chàm lại quay nhìn về hướng Đông – mặt trời mọc: do tín ngưỡng dân tộc.

Lựa chọn vị trí và hướng công trình 1

Trong kiến trúc nhà ở dân gian: địa điểm xây dựng trước hết phải đạt yêu cầu thuận tiện cho đòi sống và sản xuất, cũng có một số người tin vào thuyết phong thủv địa lí, thuật tướng số và mê tín dị đoan thì coi công việc này có tầm quan trọng đặc biệt, quan hệ tới vận mệnh, tương lai của cả chú hộ lẫn gia đình (gia đình yên vui, hạnh phúc, khoẻ mạnh, làm ăn phát tài, phát lộc, hoặc thăng quan tiến chức V. V…). Một con đường, một dòng nước hoặc góc ao, góc đình… người xưa quan niệm đều không nên hướng vào mặt trước ngôi nhà (thứ nhất góc ao, thứ nhì đao đình lá những nơi cân tránh làm nhà ở). Đồng thời, trong phong tục tập quán các dân tộc có nhiều kinh nghiệm dân gian đã đúc kết cũng nhằm tránh nơi ẩm thấp để báo vệ kết cấu vật liệu ngôi nhà được bền vững, đồ đạc tư trang đỡ mục mốc, lương thực tồn trữ không bị môi mọt đục hại V. V… khi lựa chọn đất xây dựng nhà ở.
Việc lựa chọn đất xây dựng thường kết hợp với việc quyết định hướng nhà. Hướng nhà của đồng bào miền xuôi thông thưòng quay về hướng Nam và hướng Đông – Nam đế lây gió mát mùa hè nóng nực và ánh nắng ban mai có tác dụng tốt đối với đời sống con người (tục ngữ: “lấv vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”, “gia sự đại an, có nhà hướng Nam”). Song vối đồng bào các dân tộc miền núi, lại không nhất thiết một hướng Đông, Tây, Nam, Bắc nào nhất định mà tùy địa hình, địa vật bán làng: Nhà ớ Tày – Nùng thường dựa vào núi, nhìn ra thung lũng và tránh những núi non, sõng ngòi, bụi cây hình thù quái gở, “nhòm ngó” vào nhà (một mỏm núi hình mủi thương đâm vào nhà có thể gây nạn thương vong, một bụi cây hình con cáo nhìn vào nhà sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc chăn nuôi gia cầm, một dòng suối chảy qua nhà là hiện tượng “tán tài”, mất mát của cải V. V…). Nhà ỏ của người Thái lúc nào cũng lấy những ngọn núi, những dòng sông làm “chuẩn” và hướng nhà là hướng nhìn thẳng từ cửa “chân” ra ngoài, hướng tốt là hướng nhìn thẳng vào một ngọn núi cây cối xanh tươi bốn mùa và có đỉnh cao vút, thế hiện sức sống mãnh liệt của thiên nhiên. Kiến trúc ngôi nhà dài truyền thống “mẩu hệ” của người Ê Đê ở Tây Nguyên lại bố cục theo hướng Nam – Bắc để bếp, khách và phòng ngủ các gia đình là thành phần quan trọng có thế bố trí ớ hướng Đông.
Qua đó chúng ta thấy rõ: việc lựa chọn địa điểm và hướng nhà có nhửng nguyên tắc tương đối thống nhất (thuận tiện cho đời sống và sản xuất, cao ráo, thoáng đãng…) sông cũng có những khác biệt tùy điều kiện địa lí, phong tục tập quán dân tộc và quan niệm của gia chủ.