Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng

Kiến trúc cổ Việt Nam

Tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam, trải qua 4000 năm lịch sử có diễn biến khá phong phú và phức tạp. Nói đến tôn giáo ở Việt Nam, thông thường và chủ yếu phai kể đến: Khống giáo, đạo Giáo (còn gọi là Lão giáo), Phật giáo và từ thê kỉ thứ XVI có thêm đạo Thiên chúa. Ngoài ra còn có một số tôn giáo khác với số tín đồ ít ỏi như: đạo Hồi, đạo Tin lành, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo v.v… trong tín ngưỡng dân gian vấn đề thờ cúng tổ tiên lả phổ biến, việc này được hệ tư tưởng Khống giáo cúng cố thêm hình thành chế độ tông tộc, gia trướng, phụ quyền, làm nền tảng cho chế độ quân chú trong xã hội phong kiến. Vì thế đã xuất hiện kiến trúc nhà thờ Họ trong làng xóm và bản thờ tố tiên trong mỗi gia đình để cúng giỗ, lễ tết hàng năm.
Ngoài thờ cúng tổ tiên, lại còn có nơi thờ thần giáo, bái vật giáo và các vết tích thờ cúng “Tô tem” còn thấy khá rõ trong các vùng đồng bào dân tộc ít người, kế cả ngay một số gia đình dân tộc Kinh ớ Việt Nam như thờ ma xó, thờ ma gà… vê tự nhiên thần giáo thì ta thấy: tế trời, tế đất, cúng sao, cúng thổ công, cúng thổ địa, cúng vua bếp, cúng cây đa, cúng núi đá v.v… ; Trong phạm vi “kiến trúc cố Việt Nam” và tìm hiếu những công trình có giá trị nghệ thuật truyên thống, mang nhiêu đặc trưng tính dân tộc nhất thì chí có:
– Chùa – Tháp (kiến trúc Phật giáo)
– Đen – Miếu (đạo Giáo – Khống giáo – tín ngưỡng dân gian)
– Đình làng (tín ngưỡng và kiến trúc dân gian)
– Láng mộ (kiến trúc tín ngưỡng)
– Nhà thờ Họ (kiến trúc tín ngưỡng dân gian)
Ngoài ra còn một số kiến trúc nhỏ như: Am thờ, cây hương, cột đá khắc kinh Phật v.v…
A. CHÙA – THÁP
Kiến trúc chùa tháp là cơ sớ hoạt động và truyền bá Phật giáo. Trong chùa chu yếu là thờ Phật, song chùa ớ Việt Nam có một số ngoài thờ Phật còn thờ thần (chùa Thầy – Hà Tây và chùa Láng – Hà Nội… thờ Từ Đạo Hạnh và Lí Thần Tôn), thờ tam giáo (Phật – Lão – Khổng) thờ Trúc Lâm Tam tổ v.v. ..
Chùa, đồng thời biểu hiện các triết lí cứa đạo Phật. Hệ thống tượng Phật trong Chùa theo diễn biến lịch sử có nhiều thay đổi: thời Lí (thế kí XI, XII) chỉ thay mới có một pho tượng Phật A Di Đà (chùa Phật tích – Hà Bắc), thời Trần (thế ki XIII, XIV) phát triển có tượng Tam thế với 3 pho tượng: quá khứ – hiện tại – vị lai xếp hàng ngang và 3 pho tượng: A Di Đà – Thích ca Mâu Ni – Di Lặc xếp hàng dọc, từ thời Lê (thế kỉ thứ XV) trở đi điện thờ Phật có nội dung càng phức tạp hơn, có nơi người ta thờ cả tượng Ngọc Hoàng, Đế Thích Thập đạo Diêm vương, Thố công, Thố địa … trong chùa.
Ngoài khu trung tâm nói trên, kiến trúc Chùa còn có thể có dãy hành lang ở trong cùng thường là nơi đặt bàn thờ và điêu khắc tượng các vị La Hán, các vị Hòa thượng hoặc phối hợp cùng hành lang hai bên lầm nơi tạm trú cho khách thập phương, chuẩn bị cỗ chay ngày lễ hội v.v… củng có khi kết thúc kiến trúc khu Chùa là một dãy nhà tổ (nơi sinh hoạt của các nhà sư Trụ trì) hoặc khu nhà Tố này riêng biệt ớ kế bên khu Chùa.

Một bộ phận kiến trúc quan trọng nữa của các khu chùa là tháp. Tháp được xây dựng nhằm ghi lại nhữnẹ dấu tích của nhà Phật, bắt nguồn và biến thể từ kiến trúc Phủ đồ (Stupa) của Àn Độ. Phủ đồ thời tiền sử là những nấm mồ cua các tù trướng và vua chúa đắp hình vòm cầu, rồi phát triển thành những đài ki niệm và được Phật giáo sử dụng thành vật tiêu biểu chính và làm công trình trung tâm của khu chùa. Từ những tòa Phủ đồ nguyên thủy Ân Độ, sang Á Đông biến thế thành những tòa Bảo tháp (Pagoda), chúng được dựng lên nếu không phải chỉ để làm kỉ niệm thì tất nhiên phải tàng trữ xá lợi (hài cốt đã hỏa thiêu) hoặc những di vật như hình bát, tịch trượng, áo mũ hoặc kinh sách, chú hay hình tượng phật, bồ tát v.v… được coi là những vật thờ tôn kính của nhà Phật. Đa số các tháp được xây dựng ở một vị trí riêng biệt để tiện cho việc hành lễ, chạy đàn (vừa tụng niệm vừa đi) vòng quanh tháp. Các tháp ở Việt Nam phẩn nào cũng có hình thức tương tự các tháp Trung Quốc và Nhật Bản, song vẫn có những nét đặc trưng riêng biệt củng với kiến trúc Chùa Việt Nam. Tháp thường vươn theo chiều cao, mà không phát triển theo chiều ngang, rộng nơi chân bệ và thân tháp như Phủ đồ của Ân Độ và các nước Phật giáo phái Tiếu thửa; thân tháp thường có đáy hình vuông hoặc lục lăng hav bát giác, chiều đứng chia ra làm nhiều tầng theo số lẻ, có những vành mái ngắn nhô ra để nhấn rõ tửng tầng của chiều cao. Các vòm cầu của Phủ đồ đôi khi được nhắc lại trên nóc tháp (như tháp ÔngThượng – Hà Nội), hoặc xử lí kết thúc khác đi như một tán lọng, hoặc bâu rượu, búp sen…
Những kiên trúc chùa Tháp ở Việt Nam cũng tương tự các loại hình kiên trúc tôn giáo – tín ngưỡng khác như: Đình, đền, miếu v.v… đa số là kết cấu gỗ, kết hợp các vật liệu địa phương khác tự khai thác đá vân, đá ong, gạch nung, đá hộc v.v… hình thức kết cấu gỗ với phương thức cổ truyền: trồng rường, giá chiêm hoặc cái biên tủy theo quy mô to nhỏ của công trình cụ thế. Cũng do phương thức sử dụng vật liệu và hình thức kết cấu nói trên nên đa số các chùa cổ, kể cả các Tháp cổ qua chiến tranh và thiên nhiên tàn phá hoặc húy hoại còn lại ngày nay rất ít là dạng nguyên sơ, mà toàn bộ phần lớn đã qua trùng tu, sứa chữa nhiều lần để còn tồn tại đến ngày nay.
Điêu khắc và trang trí trong các kiến trúc Chùa Tháp của Phật giáo là noi tập trung tinh hoa nghệ thuật đương thòi. Những di vật còn lại ngày nay cho chúng ta thưởng thức những đường nét tạo hình khéo léo, nhiều sáng tạo của cha ông chúng ta. Nhiều tượng Phật nổi tiếng: A di đà (chùa Phật Tích – Bắc Ninh), Phật Di lặc (chùa Quỳnh Lâm – Quảng Ninh), Phật bà quan âm nghìn mắt nghìn tay (chùa Bút Tháp – Bắc Ninh), các vị La Hán (chùa Tây Phương – Hà Tây) v.v… ngoài ra còn có các tượng thú vật: trâu, ngựa, voi (chùa Phật Tích), khí (tháp Chương Sơn), nửa người nửa chim ( Phật tích, Long Đọi…) trong các chùa còn có cả tượng tạc các người đương thòi, tượng các danh nhân, tượng các vị sư có công lao xây dựng chùa. Các thành phàn trang trí khác như phủ điêu bằng đá ở hàng lan can (chùa Bút Tháp), các chạm khắc trên gỗ trong các chi tiết hoặc bộ phận cấu tạo công trình: bẩy, dâm, xà, cột… hoặc trên đất nung ở các tháp v.v… đa số là những “Tứ linh”: Long, Li, Quy, Phượng hoặc rồng, mây, hoa lá hay sông nước, hoa văn hình học v.v… được kết hợp theo nguyên tắc kết nối vô tận, gây cám giác về một thế giới không cùng, cái vô hạn trong cái hữu hạn, rất là phong phú và phù hợp tinh thần giáo lí nhà Phật. Có nhiều bố cục đường nét đặc sắc mĩ quan biến hóa và hài hòa, vừa có hiệu quả, vừa biếu thị sức song phi thường cùa nghệ thuật dân tộc.

Kiến trúc Phật giáo phát triển ớ nước ta đả có một lịch sử lâu đời: Phật giáo du nhập vào Việt Nam ngay từ cuối thế kỉ II, đầu thế kỉ III – khi đó nước ta đang ở vào
thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất và chịu nhiều ảnh hưởng của các thế lực chính trị, văn hóa phương Bắc. Quận Giao Châu (Việt Nam ta lúc bấy giờ) nằm trên đường gian thông ven biển Nam Hải từ Ân Độ sang Trung Quốc và cùng với Quáng Châu (Quáng Đông – Trung Quốc) là một chặng trung gian thích hợp. Các thuyền buồm Ân Độ qua lại buôn bán đều có mang theo một số tăng lữ để cúng lễ dọc đường và chữa bệnh cho thúy thủ, hành khách v.v… do đó họ đã truyền bá đạo Phật vào đất nước ta.

Cũng ớ Hoa Lư, nàm 973 Nam Việt vương Đinh Liễn (con Đinh Tiên Hoàng) cho dựng 100 cột đá khấp kinh Phật mà gần đây: năm 1963 đả phát hiện một trong số nói trên. Các nhà sư Pháp Thuận (915-990) và Ngô Chân Lưu (933-1011) là những viên đại than trụ cột của triều đình trong công việc trị nước, ngoại giao củng như chống giặc ngoại xâm. Từ thời Đinh – Tiền Lê, Phật giáo tích cực nhập thế và chứa đựng tâm hồn dân gian người Việt, nhiều ngôi chùa không còn chí là công trình kiến trúc đế hoạt động và truyền bá Phật giáo mà đã trở nên những trung tâm văn hóa ớ nông thôn, vừa giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, vừa tiến hành những sinh hoạt hội hè, văn nghệ dân gian và góp phần tố chức xã hội.
Thời nhà Lí (thế kỉ XI – thế kỉ XIII) là giai đoạn thịnh đạt của Phật giáo ớ Việt Nam, đạo Phật hầu như chiếm địa vị độc tôn trong tín ngưỡng cứa quần chúng nhân dân củng như tầng lớp phong kiến thống trị. Những tư tương và đạo lí nhà Phật: từ bi bác ái, khoan dung quảng đại… dễ dàng chinh phục được tấm lòng những người dân Đại Việt và đồng thời củng lả phương châm trị nước, trị dân của các vua nhà Lí. Do đó hoạt động kiến trúc xây dựng chùa tháp Phật giáo thời này thật là “vô tiền khoáng hậu”: triều đình, nhà vua và tầng lớp quý tộc nhiệt tình, sốt sắng đứng ra đầu tư xây dựng, trong quần chúng nhân dân cũng đông đảo nhiều người hướng ứng góp công, góp của khuyến khích dựng chùa. Sử sách còn ghi: năm 1031, triều đình bo tiên ra xây dựng 950 chùa, quán. Riêng thái hậu Linh Nhân trước sau đã dựng đên 100 ngôi chùa. Năm 1129, triều đình mở hội khánh thành 4000 ngôi bảo tháp (tháp bằng đất nung)… một số nhà vua triều Lí như Lí Thái Tông (1028-1054), Lí Thánh Tông (1054-1072), Lí Cao Tông (1176-1210) và Lí Huệ Tông (1211-1224) đã từng đi tu, theo đạo Phật. Vua Lí Thánh Tông còn sáng lập ra một phái Thiền tông mới ở Việt Nam gọi là “phái Thảo đường”. Trong nhân dân, số sư sãi và tín đồ đạo Phật chiếm một ti lệ khá đông, theo nhà sử học Lê Văn Hưu (thời Trần) thì vào đời Lí: “… nhân dân quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa…”. Khắp đất nước, những danh lam thắng cảnh như núi Sài Sơn (Quốc Oai – Hà Tây), núi Lạm Kha (Tiên Sơn – Bấc Ninh), núi Lãm Sơn (Quế Võ – Bắc Ninh), núi Long Đọi (Duy Tiên – Hà Nam), núi Dục Thúy (Hà Nam) v.v… đều được lựa chọn để xây chùa, dựng tháp.
Tại kinh đô Thăng Long, ngoài cung điện triều đình còn có nhiều chùa, tháp được xây dựng có quy mô lớn và nổi tiếng: chùa Diên Hựu (1049), tháp Báo Thiên (1057), chùa Thắng Nghiêm, chùa Trân Giáo v.v… ở quê hương nhả Lí là Phú Thiên Đức (Bắc Ninh) khi vừa lên ngôi vua, Lí Thái Tổ (1010 – 1028) đã xuất tiền kho 2 vạn quan để dựng 8 ngôi chùa vầ trong triều đại nhà Lí, vùng núi đồi Tiên Du (Tiên Sơn – Bắc Ninh ngày nay) được tập trung xây dựng như lả một trung tâm kiến trúc Phật giáo có số lượng hàng mấy chục ngôi chùa lớn như: chùa Trùng Quang(1034), chùa Thiên Phúc (1041), chùa Vạn Phúc – phật tích (1057), chùa Đại Lảm (chùa Dạm – 1086), chùa Vĩnh Phúc (1100), chùa Quảng Giáo (1121) v.v… ngoài ra các địa phương khác cũng có chùa và Tháp như : tháp Trương Sơn (1108 – 1117, Ý Yên – Nam Định), chùa và tháp Long Đọi – Sủng thiện diên linh (1121, Duy Tiên – Hà Nam) Chùa và tháp Linh Tế (Dục Thúy – Hà Nam), chùa Quỳnh Lâm