Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng

Đô thị cổ Bắc Kinh

kiến trúc tôn giáo là bộ phận rất quan trọng của nền kiến trúc cổ đại Trung Quốc.
Tôn giáo ở Trung Quốc từ xưa có Phật giáo, Đạo giáo và Đạo Islam, trong đó Phật giáo được truyền bá rộng nhất và có tín đồ đông nhất. Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang, người sáng lập là Đức Thích Ca Mâu Ni.
Theo giáo lý Phật giáo thì thế giới thực tại là bể khổ vô bờ trong đó có cả nỗi khổ sinh, lão, bệnh, tử, cái khổ phải xa lìa người thân, cuộc sống không được bảo đảm, dục vọng không được thoả mãn… Nguyên nhàn sinh ra đau khổ là do con người có nhiều dục vọng mà những dục vọng đó là do thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác của con người gợi ra. Cho nên muốn giải thoát nỗi khổ của người đời thì phải từ bỏ những dục vọng, phải gian khổ tu hành cho đến khi kết thúc cuộc đời mới có thể đi đến thế giới không còn khổ, đau mà Phật giáo gọi đó là cõi “Niết bàn”.
Phật giáo truyền vào Trung Quốc từ thời nhà Hán, ngay lập tức được giai cấp phong kiến tán đồng, úng hộ. Họ tổ chức nhiều người tập trung dịch sách Kinh chữ Phạn ra tiếng Trung Quốc và tiến hành truyền bá giáo lý, cho lập đền, chùa và đào hang động khắp nơi trong nước làm nơi tu hành cho các Tăng, Ni, Phật tử. Theo tài liệu lịch sử thì thời Nam – Bắc Triều, nhà Lương ở miền Nam có 2846 ngôi chùa thờ Phật, có trên 52.700 người xuất gia tu hành. Riêng ở Kiến Khang (nay là Nam Kinh) đã có 70 ngôi chùa lớn. Bắc Nguy ở miền Bắc có hơn 3 vạn ngôi chùa và viện với hơn 200 vạn Tăng, Ni.

 

Số lượng các đền chùa, miếu mạo ở Bắc Kinh có thể kể đến con số nghìn. Số lượng đông đảo các đền miếu này có cái do hoàng đế sắc chỉ xây dựng,
có cái do dân cư và bao gồm rất nhiều loại khác nhau: chùa miếu Phật giáo, Lạt ma giáo, cung quán Đạo giáo, thần từ nguyên thủy, có nhà thờ của đạo Hồi và cũng có nhà thờ của đạo Thiên Chúa.

Trong số những chùa chiền Phật giáo nổi tiếng nhất ở phạm vi trong ngoài kinh thành, người ta phân biệt “nội bát sa” gồm các chùa: Bách Lâm, Gia Hưng, Quả Tế, Pháp Nguyên, Long Tuyền, Hiền Lương, Quả Hóa, Chiêm Hoa và “ngoại bát sa” có các chùa: Giác Sinh, Quảng Thông, Vạn Thọ, Thiện Quả, Nam Quan Âm, Hải Tuệ, Thiên Ninh, Viên Quảng. Còn chùa Đàm Giá, chùa Tây Vực, chùa Giới Đài được gọi là “tam sơn”. Bắc Kinh xưa còn có câu nói “cửu môn thập cá miếu” ý nói trong ủng thành của chín cổng thành trong thành nội mỗi nơi đều có một miếu Quan đế, và trong ủng thành của Chính Dương môn còn có thêm ngôi miếu Quan Âm đại sỹ. Bắc Kinh xưa còn có câu nói “cửu đàn bát miếu”, “cửu đàn” là Thiên đàn, Nhật đàn, Nguyệt đàn, Tiên Nông đàn, Xã tắc đàn… mà ta đã biết, “bát miếu” bao gồm: Thái miếu, Phụng Tiên điện, Truyền Tâm điện, Thọ Hoàng điện, Ung Hòa cung, Đường Tử, miếu đế vương các đời và Văn miếu thờ Khổng tử. Thời Minh, Thanh, đạo quán nổi tiếng ở Bắc Kinh có điện Huyền Đạo Cao, điện Minh Đại Quan, Bạch Vân quán, miếu Đông Nhạc, miếu Đô Thành Hoàng, miếu Đô Thổ Địa, cung Triều Thiên, cung Bàn Đào, miếu Bích Hà Nguyên Quân, miếu Chấn Vũ, Ngọc Hoàng các, miếu Lã Tổ, miếu Táo Quân, miếu Hỏa Thần, miếu Long Vương, miếu Được Vương…; miếu chùa Lạt ma nổi tiếng thì có cung Ung Hòa, chùa Tây Hoàng, chùa Diệu ứng, chùa Vạn Thọ, miếu Tông Kính Đại Chiêu… Chỉ tính thời kỳ đầu thời Thanh, chùa miếu Lạt ma ở Bắc Kinh thuộc phạm vi quản lý của triều đình đã có hơn ba mươi nơi. Thời kỳ Minh, Thanh, nhà thờ đạo Hồi và giáo đường Thiên Chúa nổi tiếng ở Bắc Kinh mỗi thứ có bốn ngôi, tức nhà thờ Ngưu Nhai Lễ Bái, nhà thờ đạo Hồi đông tây, nhà thờ đạo Hồi An Định môn, nhà thờ đạo Hồi cẩm Thậm phường và giáo đường đông, tây, nam, bắc.

Thái miếu (nay được dùng làm Cung Vãn hóa Nhân dân lao động) ở phía đôn? Thiên An môn và đàn Xã Tắc (nay là công viên Trung Sơn) ở phía tây Thiên An môn vốn là một cấu trúc phải trái đối xứng theo quy chế “Trái tổ phải xã” của cung điện đế vương xưa.
Người Trung Quốc xưa kia gọi xã là Thần thổ địa, tắc là Thần ngũ cốc. Cúng tế xã – tắc thế hiện là nước lấy nông nghiệp làm gốc. Đầu tiên, xã tác chia làm hai đàn hoặc một đàn, một miếu đế tế lễ. Đến đời nhà Minh, nhà Thanh thì hợp xã – tắc làm một gọi là xã tắc đế đúng tế chung. Xã tắc đàn ở Bắc Kinh nằm bén phái, phía trước Tử Cấm thành, đối xứng với Thái miếu thành thế: tả tổ hữu xá, tức là tổ tiên bên trái, xã tắc bên phải. Hình dáng của nó là một gò đất hình vuông mỗi chiều 15 mét, cao gần một mét, trên mặt phủ một lớp đất có 5 màu: xanh, đỏ, vàng, đen, trắng theo sự phân bố mang tính truyển thống: phía Đông màu xanh, phía Nam màu đỏ, phía Tây màu trắng, phía Bắc màu đen, ở giữa màu vàng; coi đất bốn phương tượng trưng cho cương vực của quốc gia. Bên ngoài gò đất có đắp một tường thấp vây quanh bốn phía. Mặt tường bốn phía cũng theo phương vị mà ốp lưu ly các màu xanh, đỏ, đen, trắng. Nghi thức thờ cúng xã tắc thì đứng ớ phía Bắc hướng về phương Nam mà cúng tế, cho nên vị trí đàn ở phía Nam, phía Bắc đàn là bái điện, hưởng điện và cửa chính.