kien truc thien dan 53f2a5f6dca9f - Kiến trúc thiên đàn

Kiến trúc thiên đàn

Đô thị cổ Bắc Kinh

Ở Bắc Kinh kiến trúc đàn miếu rất phát triển phục vụ việc thờ cúng núi sông, trời đất, đế vương, tổ tiên. Đàn miếu cũng để ghi nhớ những danh thần, danh tướng, những văn nhân có công với dân với nước. Đàn miếu còn bao gồm những gia miếu, từ đường cúng lễ tổ tiên.

Nghi thức tế giao đã có nguồn gốc từ xã hội nguyên thủy, khi con người quan niệm các yếu tố tự nhiên như trời, đất, mưa, gió, sấm, chóp đều là những bậc thánh thần và cần phải thờ cúng. Đến thời quân chú, các vua chúa đã tiếp thụ tín ngưỡng này, cải biến và lợi dụng nó như một công cụ đắc lực để cai trị nhân dân. Ở Trung Quốc, từ thời nhà Chu (thế kỷ XI – 256 trước Công nguyên), việc cúng tế trời, đất và các vị thần thánh đã trở thành điền lề. Bắt đầu từ thời Đông Hán (năm 25 – 220) trớ đi, khi Nho giáo đã thắng thế, Dịch học đã phổ biến trong toàn xã hội thì cũng thành lệ, đàn tế Trời luôn luôn được đặt ở phía Nam kinh đô và được gọi là Thiên đàn. Bên cạnh Thiên đàn người ta còn đắp các loại đàn tế khác để tế Thần Đất, Thần Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao… Tuy nhiên, việc tế giao của các triều đại không hoàn toàn giống nhau, có triều đại hợp tế chung cả trời đất và các vị thần khác; cũng có triều đại tế riêng rẽ. Đầu thời Minh, Thái Tổ Chu Nguyên Chương vẫn tổ chức tế trời, đất riêng rẽ, nhưng từ năm Hồng Vũ 11 (1378) trở đi, triều đại này lại tổ chức hợp tế trời – đất. Bản thân Thiên đàn được xây dựng từ thời Vĩnh Lạc ở Bắc Kinh năm 1420 nguyên thủy cũng là Thiên – Địa đàn. Nhưng đến nãm Minh Gia Tĩnh 9 (1520) nó mới trở thành Thiên đàn cùng với việc triều Minh quay trở lại nghi thức phân tế (tế giao riêng rẽ). 

Người Trung Quốc xưa kia gọi Xã là Thần thổ địa, Tắc là thần ngũ cốc. Cúng xã tắc thể hiện là nước lấy nông nghiệp làm gốc. Đầu tiên xã tắc chia làm hai đàn hoặc một đàn, một miếu để tế lễ. Đến đời Minh – Thanh đã hợp xã và tắc làm một để cúng tế chung. Đàn Xã tắc ở Bắc Kinh nằm ở bên phải, phía trước Tử Cấm thành là gò đất hình vuông, mỗi chiều 15 mét, cao gần 1 mét, trên mặt phủ một lớp đất 5 màu: xanh, đỏ, vàng, đen, trắng. Bên ngoài gò có đắp một tường vòng quanh bốn phía. Mặt tường ốp lưu ly các màu xanh, đỏ, đen, trắng. Nghi thức thờ cúng xã tắc thì đứng ở phía Bắc hướng về phía Nam mà cúng tế. Từ xưa các bậc đế vương thường tự nhận mình là con trời, nên việc tế trời, đất trở thành hoạt động tâm linh mang màu sắc chính trị quan trọng của các bậc Đế vương. Nơi tế trời thường chiếm một vị trí quan trọng ở đô thành.

Thiên đàn là nơi tế trời đế cầu được mùa của các hoàng đế Trung Hoa thời Minh – Thanh. Đây là một quần thế kiến trúc tế tự có trình độ nghệ thuật cao nhất, được bảo tồn hoàn chỉnh ở nội thành Bấc Kinh. Thiên đàn được xây dựng năm Minh Vĩnh Lạc thứ 18 (1420, tức đồng thời với xây dựng Tử Cấm thành) đầu tiên có tên là Thiên – Địa đàn, đến năm 1530 có xây Địa đàn riêng nên đàn này chỉ mang tên Thiên đàn. Thiên đàn xây dựng trên một khu đất rộng 2.730.000m: phía ngoài được bao bọc bởi hai lóíp tường có hình vòng cung ở mặt phía bắc, hai góc phía nam hình vuông, thể hiện thuyết “Trời tròn, đất vuông”.
Tổng thể kiến trúc Thiên đàn có ba công trình chủ yếu là: Hoàn Khưu đàn, Hoàng Khung Vũ và Kỳ Niên điện. Nằm trên trục của tổng thế kiến trúc có một bệ đá dài 360 m, rộng 29,4 m cao 2,5 m gọi là Đan bệ kiều hay còn gọi là Thần Đạo.

Hoàn Khưu đàn (còn gọi là Viên Khâu đàn) là nơi hoàng đê’ tế trời, được xây dựng lộ thiên hình tròn bằng đá cao 5 mét, phân chia thành 3 tầng bậc, tầng trên cùng có đường kính 23 m tầng dưới cùng có đường kính 54,7m. Mỗi tầng bậc đều có lan can bằng đá trắng (có 360 thanh lan can tương ứng vòng tròn 360″). Trung tâm của Hoàn Khưu đàn là một phiến đá tròn gọi là “Thiên Tâm thạch” xung quanh có những phiến đá nhỏ xếp lại thành từng vòng tròn.
Người Trung Quốc xưa cho rằng trời thuộc dương tính nên số phiến đá lát của các vòng tròn đều dùng dương số, đặc biệt là con số 9 và bội số của nó. Vòng gần tâm thất gồm 9 phiến, vòng thứ hai: 18 phiến, vòng thứ ba: 27 phiến, đến vòng thứ chín: 81 phiến. Bậc giữa và bậc cuối cùng cũng xếp 9 vòng đá như vậy. Đặc biệt số đá của mỗi vòng đều là bội số của 9.

Bốn bề của Hoàn Khưu đàn đều có bậc tam cấp lên xuống và được bao bọc bởi hai lóp tường thấp: lớp trong tròn, lớp ngoài vuông. Nghi lễ tế trời ở Hoàn Khưu đàn được thực hiện vào ngày đông chí hàng năm.
Hoàng Khung Vũ: Nằm ở phía bắc Hoàn Khưu đàn là nơi cất giữ những bài vị tế trời. Hoàng Khung Vũ kiến trúc đơn giản (hình tròn đường kính 15,6m cao 19,5m) nhưng kiến trúc bên trong rất tinh xảo, có hệ thống đấu củng đê đỡ mái và ba lóp vòm trên cao.
Hoàng Khung Vũ được bao bọc bởi một bức tường tròn cao 6 m đường kính 64 m, gọi là “tường hồi âm” (người đứng sát tường nói, người phía xa ghé tai nghe được). Tâm của bức tường tròn này là phiến đá trắng lát ngay trước bậc tam cấp của Hoàng Khung Vũ. Đứng trên phiến đá ấy gọi to sẽ nghe thấy ba lần âm thanh vọng lại, vì thế có tên là “Tam Âm thạch”.

Kiến trúc thiên đàn 1

Thiên Đàn

Kỳ Niên điện: Nằm ở phía bắc Thiên đàn, là nơi hoàng đế cử hành lễ cầu được mùa vào ngày đầu xuân hàng năm. Kỳ Niên điện cao 38 m, đặt trên nền cao 6 m, hình tròn có ba bậc cấp; bậc cuối cùng có đường kính 90m. Xung quanh mỗi bậc có lan can bằng đá trắng, 4 phía có bậc lên xuống. Kỳ Niên điện hình tròn, thân điện có đường kính 24,5 m. Điện có 3 tầng ngói lưu ly xanh, đỉnh mái là một chóp nhọn. Giữa điện có bốn cột lớn, cao 19,2 m đỡ vòm trần và tầng mái trên cùng. Bốn cột này có tên “Cột long tính” tượng trưng cho bốn mùa. Xung quanh có 24 cột phân thành 2 vòng trong và ngoài để đỡ các lớp mái dưới, mỗi vòng 12 cột cũng là tượng trưng 12 tháng trong năm và thời khắc trong ngày.
Kỳ Niên điện có kiến trúc đẹp và kết cấu tinh xảo. Đó là một thành công lớn của nghệ thuật, kiến trúc thời Minh – Thanh. Nãm 1889, Kỳ Niên điện bị sét đánh hỏng nhưng sau lại được khôi phục như cũ.

Thiên đàn ngoài ba kiến trúc chính trên còn có một số kiến trúc phụ như: Lò đồng Bát Quái, Đỉnh đồng, Hoàng Cân điện… Bao quanh Thiên đàn có 5000 cây bách cổ. Rừng bách tạo thành một phong cảnh tĩnh lặng hiếm có.
Nằm gần cổng phía tây của Thiên đàn còn có Trai cung để hoàng đế thực hiện trai giới trước ngày cúng tế. Trai cũng có đầy đủ các Công trình kiến trúc quan trọng như: chính điện, tẩm cung, lầu chuông, các công trình phụ cận, cổng lớn… với tổng số hơn 60 gian kiến trúc. Đáng chú ý nhất là gian chính điện – một tòa kiến trúc bề thế đặt trên một nền đài cao bằng cẩm thạch. Bên trong điện, ở gian giữa hiện còn đặt bức tượng vua Càn Long được làm rất sinh động, ở gian bên trái có đầy đủ các loại biên khánh, nhạc chung và các đồ tế khí khác, là những thứ hoàng đế sử dụng trong tế giao…

Ngoài Thiên đàn là nơi tế trời, ở Bắc Kinh hiện vẫn còn các đàn tế khác là Địa đàn, Nhật đàn và Nguyệt đàn.
– Địa đàn: nằm ở phía bắc, gần cửa An Định, được xây dựng năm 1530, bao gồm đàn tế, trai cung, nhà hoàng đế, Thần khố, Thần trù… Địa đàn còn có tên gọi là Phương Thạch đàn vì xung quanh đàn có hào nước. Lễ tế ở Địa đàn được tổ chức vào ngày hạ chí hàng năm.
– Nhật đàn là đàn tế thần Mặt Trời nằm ở phía đông thành Bắc Kinh, bên ngoài cửa Chiêu Dương. Lễ tế ở Nhật đàn được cử hành vào tiết Xuân phân.
– Nguyệt đàn là nơi tế thần Mặt Trăng nằm ở phía tây thành Bắc Kinh, bên ngoài cửa Phụ Thành. Lễ tế ở Nguyệt đàn được tổ chức vào tiết Thu phân.