Kiến trúc Thập Tang Lăng

Đô thị cổ Bắc Kinh

Thập Tam Lăng là tên gọi khu lăng mộ của mười ba triều vua nhà Minh dược xây dựng rải rác ở các sườn phía nam của dãy núi Thiên Thọ (cách thủ đô Bắc Kinh 50 km vể phía tây bắc). Đó là các lãng mộ: (1) Trường lăng của Minh thành tổ Chu Đệ, (2) Hiếu lăng của Nhân tông, (3) Cảnh lăng của Tuyên tông, (4) Dụ lăng của Anh tông, (5) Mậu lăng của Hiến tông, (6) Thái lãng của Hiếu tông, (7) Khang lãng của Vũ tông, (8) Vĩnh lăng của Hiếu tông, (9) Chiêu lãng của Mục tông, (10) Định lăng của Thần tông, (11) Khánh lăng của Quang tông, (12) Đức lăng của Hy tông, (13) Tư lăng của Tư tông. Triều Minh kéo dài gần 3 thế kỷ (1368 – 1644) có 16 vị hoàng đế thì 13 vị có lăng mộ ở núi Thiên Thọ.

Đây là một vùng cảnh quan đẹp đẽ với dải đất theo sườn núi hình vòng cung, mở thoáng về phía nam như hình tay ngai với hai hòn núi nhỏ (Mãng sơn và Hổ Dụ sơn) có vai trò như hai vị tướng trấn giữ lối vào chính từ phía nam. Trước lối vào chính của toàn khu lăng có những kiến trúc cổng đồ sộ dẫn tới một trục thần đạo dài 7 km từ đó có những đường dẫn tới các lãng. Hệ thống cổng và trục Thần đạo được cấu trúc uy nghi với rất nhiều tượng đá đứng chấn hai bên có tác dụng tăng thêm vẻ uy nghi và hùng vĩ. Trên đường Thần đạo cách Đại Hồng môn khoảng 500m là đình bia trong đó có tấm bia lớn ghi “Đại Minh Trường Lăng Thần công thánh Đức”. Bia con khắc 3500 chữ ghi chép quá trình dựng lăng, xung quanh đình bia có 4 cột Hoa biểu. Hai bên đường Thần đạo có 12 cặp thú đá (gồm Sư tử, Trĩ, Lạc đà, Voi, Kỳ lân, Ngựa) và 12 tượng người đá gồm 4 quan văn, 4 quan võ, 4 công thần, tất cả đều đứng thành từng cặp đối diện nhau. Người đá và thú đá đều là những công trình điêu khắc vĩ đại làm bằng những phiến đá nặng hàng chục tấn với những đường nét điêu khắc khoẻ khoắn, uyển chuyển. Toàn bộ khu lãng chiếm một địa bàn có chu vi tới 40 km.

Cổng đá ngoài cùng như một dạng tam quan có chiều cao 14 m và rộng 30 m, có 6 trụ đá tạo thành 5 cửa, phía trên có cấu trúc mái nằm trên các xà rất lớn. Tiếp sau cổng đá là Đại Hồng môn được tạo với 3 vòm cuốn lớn tường màu hồng trên có mái ngói lưu ly mang dáng dấp một tòa nhà cổ truyền nhưng được cấu trúc bề thế và vững chãi.
Lớn nhất trong quần thể Thập Tam lăng là Trường lăng, nơi để mộ Minh thành tổ Chu Đệ cùng với Hoàng hậu Từ Thị, công trình được khởi công vào năm 1409 và sau 10 nãm hoàn thành. Mỗi lăng đều có điện thờ bên trong đặt bia gọi là Minh Lâu. Một công trình rất quan trọng ở Trường lăng là cung điện Lãng An có quy mô đồ sộ và dáng dấp gần giống như điện Thái Hòa ở Cố cung Bắc Kinh. Công trình có mặt bằng rất lớn: 66,75m X 29,3 lm, bộ khung nhà được cấu tạo gồm 9 gian và được làm bằng loại gỗ rất quý (gỗ Nam Mộc), có tất cả 32 cột, các cột chính có chiều cao 14,3 m và đường kính 1,17 m.

Khách du lịch đến đây thường được vào thăm khu Định lăng, nơi đặt mộ của vua Thần tông cùng với hai bà hoàng hậu, ông là vị vua thứ 13 của triều
Minh. Công trình được xây dựng trong thời gian 1584-1590 và chi phí hết 8 triệu lạng bạc. Nhiều công trình trong quần thể Định lăng đã bị hủy hoại chỉ còn lại Minh Lâu và Bảo Định cùng với các cổng phía sân sau. Điều đặc biệt ở đây là khách có thể xuống thăm địa cung nằm sâu trong lòng đất (ở độ sâu 27 m) và thấy được tường tận cách bố trí và trần thiết vô cùng tinh vi phức tạp của nơi chôn cất một vị hoàng đế. Địa cung mới chỉ được các nhà khảo cổ phát hiện vào năm 1956 và sau đó được tổ chức cho khách tham quan.
Lăng nằm ở phía Tây của Trường Định lăng, dưới chân núi Đại Cốc, nhìn bề ngoài cũng giống như các lăng khác, nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra vào năm 1956. Đó là từ mặt tường phía Đông Nam, người ta phát hiện thấy hình chiếc cửa vòm lộ ra sau lớp gạch tường lâu ngày bị vỡ. Các nhà khảo cổ học mở một con đường hầm vào chính giữa cửa vòm ấy, thì phát hiện thấy một đường ngầm xây gạch. Nhân đó người ta đào một tường hầm thứ 2 từ sau điện thờ vào sâu trong núi. Đào sâu xuống 7,5m thì phát hiện thấy một tấm bia đá nhỏ ghi: “Từ bia đến lớp tường kim cương 16 trượng sâu 3 trượng 5 thước”. Thời bấy giờ người ta xây lăng khi hoàng đế còn sống, để giữ bí mật nơi để quan tài, lãng thường bị bịt kín. Để sau này khi dùng lăng khỏi bị nhầm lẫn, thì “người phụ trách xây lăng phải lưu lại ký hiệu. Bia đá làm ký hiệu này không ngờ là hoa tiêu chỉ đường cho những người khai quật mộ 300 năm sau”.

Kiến trúc Thập Tang Lăng 1

Địa cung thực sự là một cung điện ngầm nằm sâu trong lòng đất cách mặt đất 27m bao gồm 5 mộ thất với diện tích tổng cộng là 1195m2 có các đường thông nhau, toàn bộ đều là cấu trúc vòm cuốn bằng đá. Mộ thất lớn nhất có mặt bằng 9,lmx36,lm, cao 9,5 m là nơi đật linh cữu hoàng đế, các hoàng hậu cùng với nhiều hòm rương chứa đựng các đồ vàng bạc châu báu chôn theo. Lối vào các mộ thất đều có cửa lớn bằng đá và cánh cửa cũng bằng đá nguyên khối, cánh cửa chính rộng 1,7 m, cao 3,3 m nặng tới 4 tấn.
Cung điện ngầm có kiến trúc hình chữ T gồm có điện trước, điện giữa, điện sau, điện bên trái, điện bên phải. Tường điện xây bằng đá trắng, trên đỉnh cuốn bằng đá, kiến trúc cuốn vòm. Điện trước và điện giữa cao 7,2m, rộng 6m, dài 58m. Nền lát bằng loại gạch đặc biệt do một xưởng gạch ở Giang Nam chuyên sản xuất để cung cấp cho nhà vua. Một mẻ gạch loại này được đốt bằng mấy thứ gỗ trong 138 ngày, khi gạch ra lò lại dùng dầu trẩu rưới lên mặt, do đó mặt gạch nhẵn bóng, càng lau càng bóng.
Điện giữa có 3 bàn thờ tạc bằng đá trắng, trước mỗi bàn thờ có đặt một thống lớn bằng sứ, trong thống dựng dầu để đốt đèn gọi là đèn Trường Minh. Ngoài ra, còn có lư hương, lọ hoa… Thống sứ lớn được tráng men trắng, vẽ rồng mây màu xanh tuyệt đẹp.

Hai gian điện hai bên cũng xây theo kiểu tường đá mái cuốn hẹp hơn điện giữa một chút. Điện trong cùng lớn nhất là bộ phận chủ yếu cúa cung điện dưới đất, nền lát đá hoa ban. Trên bệ đặt ba quan tài. Quan tài chính giữa lớn nhất là quan tài hoàng đế Vạn Lịch. Hai bên là hai quan tài của hai hoàng hậu. Xung quanh có 26 hòm đồ đạc chôn theo.
Các điện thờ bên trong đều thông với nhau. Lối cửa chính điện chính và hai điện bên đầu có hai cánh cửa bằng đá. Bên trong cửa có chốt bàng đá. Sau khi đưa quan tài vào và đóng cửa thì chốt đá tự động chốt lại, bên ngoài không mở được. Hơn 2000 đồ vật quý giá chôn theo, như các đồ dùng hàng ngày của nhà vua : mâm thau, bình đựng rượu, chén bát bằng vàng bạc được chạm trổ tinh xảo.

Các đồ trang sức đều bằng ngọc quý, trân châu mã não. Nhiều đồ vật bằng vàng có khắc trọng lượng, tên người và ngày tháng cống vua. Quý nhất là chiếc mũ của hoàng đế được dệt bằng sợi vàng có hình hai con rồng châu đầu vào nhau và chiếc mũ của một trong hai hoàng hậu có 6 con rồng và 3 con phượng đều bằng vàng có hơn 100 viên ngọc bích và 5000 viên ngọc trai.
Toàn cảnh Thập Tam lăng vừa thâm nghiêm vừa hùng vĩ, được nghiên cứu quy hoạch phù hợp với những lý luận phong phú của thuyết phong thủy Trung Quốc, tạo nên một khung cảnh “rồng bay phượng múa, khí thế hùng vĩ”, có đỉnh núi Thiên Thọ làm đối cảnh cùng các núi Mãng sơn và Hổ Dụ sơn làm tay ngai… Đây là một kho chứa đựng nhiều tư liệu quý về lịch sử cũng như về khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật.