Kiến trúc quân sự – quốc phòng

Kiến trúc cổ Việt Nam

kiến trúc quân sự – quốc phòng bao gồm: thành – lũy – pháo đài – đồn – điếm v.v…
Từ thời dựng nước, ông cha ta đã không ngừng đối phó và xả thân chống cự với quân thù để giữ nước. Cùng với nhà cửa phục vụ đời sống sinh hoạt của con người, những công trình kiến trúc quân sự – quốc phòng là một loại hình kiến trúc sớm xuất hiện và những thòi kì lịch sử tiếp theo hầu như không thời nào là không có.
Đất nước ta ở vào một vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Châu Á, ngã ba đường của các nền văn minh nhân loại, lại giàu có về tài nguyên và nhân lực nên thường bị các nước ngoài nhòm ngó, đe dọa và bành trướng xâm lược. Những cuộc đối đầu lịch sử đưa dân tộc ta đến vói những thứ thách cực kì gay go, khốc liệt song chúng ta đã chiến thắng. Lẽ sống còn không chỉ đòi hỏi nhân dân ta đoàn kết một lòng, già tré gái trai cùng đứng lên quyết tâm tranh đấu chống giặc giữ nước; mà còn phải có những phương tiện đế con người sử dụng có hiệu quả khi phòng ngự, những kiến trúc thành lũy xuất hiện là một phát minh trong lịch sử đấu tranh giai cấp của loài người và là một phương tiện tự vệ có giá trị, cùng với những tiến bộ về vật liệu và kĩ thuật, kiến trúc ngày một được cải tiến và phát triển phong phú.
Thời buổi sơ khai, kiến trúc thành – lũy quân sự còn xây đắp thô sơ với hình thức rất đơn giản: chỉ là những tấm ván gỗ bao bọc nơi cư trú của con người, vừa để bảo vệ và phòng ngửa thú dữ tấn công và củng là công sự tự vệ, chống trả với những bộ lạc lân cận khác đến cướp phá. Sách “Lĩnh nam trích quái” thời xưa gọi đó là những “mộc sách”, đến nay nhiều làng bản các dân tộc vùng Tây Nguyên nước ta còn tồn tại hình thức kiến trúc phòng ngự này. về sau, khi những tụ điểm cư dân phát triển tử rừng núi về trung du và đồng bằng hình thành những xóm làng Việt Nam với những lũy tre làng bao bọc. Lũy tre làng là một loại tường thành rất độc đáo, rất dân tộc, với những cây tre lớn nhỏ ken dày và đầy gai góc là những công sự rất kiên cố, hơn ca những kiến trúc thành lũy xây đắp ớ một số nơi bằng gạch đá. Chúng đã phát huy tác dụng bảo vệ và phòng ngự với thù trong, giặc ngoài từ ngàn xưa, qua xả hội phong kiến – đấu tranh giai cấp, và ngay cả gần đây trong chiến tranh chống xâm lược với bọn đế quốc thực dân hùng mạnh và hiện đại.
Sau những “mộc sách” bằng ván gỗ bao bọc, tiến bộ hơn ông cha ta đã thiết kế vả xây dựng những kiến trúc thành lũy.
về ý nghĩa và tính chất, có những kiến trúc thành lũy ngoài mục đích tạo dựng làm căn cứ quân sự, có tòa thành còn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa cua cả nước – thường đó là kinh đô của một triều đại phong kiến, như: cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long và Huế. Song cũng có tòa thành chỉ lầ lị sở của bọn quan lại thống trị trong thòi chống Bắc thuộc như Liên Lâu, Đại La v.v… hoặc căn cứ và trung tâm có giới hạn địa phương như tỉnh lị, phủ lị, huyện lị (các thành: Nam Định, Sơn Tây, Nghệ An, Bắc Ninh v.v… và Tây Ninh, Phước Long, Đan Phượng v.v…) củng còn có những kiến trúc thành lũy thuần túy mang tính chất quân sự: phòng ngự hoặc cát cứ khu vực, dựa theo địa hình hiểm trở như các thành nhà Mạc, lũy Trường dục V. V…
Vị trí địa điểm được lựa chọn để xây dựng chú yếu tùy thuộc các ý nghĩa kế trên: ở trung tâm đất nước nếu là kinh đô, thuận tiện chỉ đạo hành chính nếu là thủ phú địa phương hoặc có lợi thế quân sự khi là căn cứ phòng ngự. Mặt khác, trong điều kiện lịch sử của xã hội phong kiến nên những thuật phong thúy, thuyết địa lí củng là một nhân tố quan trọng quyết định việc chọn đất, chọn hướng xây thành – nhất là các tòa thành được xây dựng làm kinh đô cho triều đại. Thế “rồng cuộn hố ngồi” của Thăng Long thời Lí, “núi Ngự làm bình phong” cho thành Huế triều Nguyền v.v…
Do đó các công trình kiến trúc quân sự – quốc phòng cổ xưa không những phản ánh trình độ kĩ thuật quân sự, tư tưởng chiến thuật chiến lược qua các thời kì lịch sứ dựng nước và giữ nước mà còn thể hiện đầy đủ cơ cấu xã hội, hoàn cảnh kinh tế và tài năng kĩ thuật nghệ thuật của ông cha ta.
về vật liệu xây dựng các kiến trúc quân sự quốc phòng, những thảnh lũy đầu tiên hầu hết được đắp bằng đất: cổ Loa, Mê Linh v.v… thông thường thì ở mọi địa điểm xây thành người ta đảo ngay đất tại chỗ đắp tường thành, phan đất bị đào đi tạo nên hào chạy xung quanh thành và là một bộ phận quan trọng có tác dụng cùng cấu trúc phòng ngự của tòa thành. Ớ nước ta lại có tòa thành được tôn tạo dựa vào địa hình tự nhiên của sông, của núi mà nối lại, khép nên như thành Hoa Lư – Kinh đô thời Đinh, Tiền Lè. Những thời kì tiếp theo, nhản dân ta sử dụng vật liệu xây thành, đắp lũy ngày càng phong phú hơn: ở miền núi đá, người ta sử dụng những phiến đá xanh có đẽo gọt hoặc không, ở miền trung du người ta khai thác đá ong đe xây tường thành khá là vưng chác, ở miền đồng bằng khi đã có nghề nung, người ta dùng gạch và VOI vữa xãv thành.
Những kiến trúc quân sự quốc phòng cổ Việt Nam có đồ án mặt bẵng bố cục gồm đủ dáng hình: hình vuông, hình chữ nhật, hình đa giác đều, hình tròn, hình ngôi sao… vả đặc biệt hơn là những tòa thành lợi dụng địa hình thiên nhiên mà xây dựng, không có hình dáng hình học kỉ hà rõ ràng và được đặt tên theo dáng dấp hình kiểu như Loa thành giống hình xoáv vỏ ốc, thành Nguyệt tương tự mặt trăng khuyết v.v… Thông thường môi tòa thành thường chia làm hai bộ phận phân trong là nội thành vá phan ngoài là ngoại thành, tùy thuộc ý nghĩa tính chất tòa thành mà bố trí nội dung kiến trúc. Trong trường hợp thành xây dựng ở kinh đô, có thế còn có tới 3 vòng thành hoặc nhiều hơn nữa, vòng thành ngoài được gọi là Kinh thành hoặc Đô thành. Vòng thành ngoài của thành Thăng Long là thành Đại La (Đê La thành) Hà Nội ngày nay; Với kinh đô triều Nguvễn, Huế bố cục có 3 vòng thành rõ rệt : Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cắm thành. Nội thành thường xây dựng kiến trúc cung điện, khu trung tâm hành chính, nơi ở của vua quan v.v… ngoại thành thường bố trí khu doanh trại quân lính và nhà ở của nhân dân. Song riêng trong trường hợp thành Hoa Lư có khác, khu vực cung điện của các vua Đinh – Tiền Lê lại được đặt ở thành ngoại, chú vêu do địa hình tự nhiên và liên hệ giao thông thuận tiện hơn khu vực thành nội.
Những tòa thành cổ Việt Nam đầu tiên được đắp bằng đất, chân thành đắp rộng, lên cao thu hẹp lại đế chống xói mòn, sạt lở và chịu lực vững chắc., vết tích của các thành Cố Loa, Liên Lâu, Đại La v.v… đến Hoa Lư, một số đoạn tường thành đã xây bang gạch, ơ vùng Trường Yên – Ninh Bình ngàv nay các nhà kháo cố học đã phát hiện nhiêu viên gạch để xây thành có in chư “Đại Việt quôc quan thành chuyên”, “Giang Tây quan” v.v… sản xuất thời Ngô, Đinh, Tiền Lê (the kỉ X) dùng đế xây thành Hoa Lư, cố thế sau này nhà Lí tiếp tục sử dụng. The ki XI, Lí Thái Tố xây dựng nội thành Thang Long chú yếu là bằng gạch, song rất tiếc nay hoàn toàn đã là phê tích vả chi còn lại là sự mô phóng theo sử sách và một số ít ỏi vết tích trong các di chỉ kháo cổ học ớ khu vực Ba Đình Hà Nội ngày nay. Hình ảnh Thành Đông Đô thời Hậu Lé cung không còn gì đáng kế. Thảnh Hà Nội là Trấn thành và Tỉnh thành thời Nguyền, xây dựng mới chưa đầy 2 thế kí, song phần lớn chân tường thành cũng đã nằm sâu trong lòng đất, chi còn lại vài vết tích kiến trúc cụ thể như Cột Cò, Cứa Bắc … Kiến trúc thành xày đá của Việt Nam hiện còn lại đáng kế và tiêu biếu là thành nhà Ho (Thanh Hóa), đây là một tòa thành cổ giá trị lớn về kĩ thuật sứ flung vật liệu và phương thức thi công ghép đá, xây cuốn, trong điều kiện lúc bay giờ. Nói chung từ thời Hậu Lé – khoáng thế kỉ thứ XVIII trơ về trước các tòa thành cổ Việt Nam đều có bố cục và cấu trúc theo kiếu thảnh Phương Đông.
Đen cuối thế kỉ thứ XVIII, triều Nguyển cấu kết với thực dân Pháp đà nhờ một số võ quan và lái buôn Pháp như: Phi-líp Va-ni-ê (Phillippe Vannier), Gian Báp-tít Senhô (Jean Baptiste Chaigneau), Đơ Phoócxăng (De Forcans), và Olivié đơ Puvmanen (Olivier De Puvmanel) giúp thiết kế và xây dựng một loạt thành phỏng theo kiểu Vô báng (Vauban) của phương Tây, được thịnh thành ớ Pháp tử thế kỉ thứ XVII. Tòa thành loại kiểu nảy được xây dựng đầu tiên ở nước ta là thành Sài Gòn: năm 1790.
Kiếu thành Vô băng nảy có mặt bằng cơ bản vẩn theo dạng hình học rõ ràng, song có đặc điểm là có bố trí nhiều góc cạnh bởi việc bố trí những pháo đài (Bastiom), pháo đài góc (Lunette d’angle) những pháo đài nhấn (Embrassure), đường chân thành ngoài (Berme), đường ngoài hào (Glacis)… cấu trúc thành như vậy nham đáp ứng yêu cầu điều kiện kì thuật quân sự: quân đội được trang bị bằng những vũ khí, đạn dược bắn đi bàng thuốc súng.
Kiểu thành Vô băng đã được triều đình nhà Nguyễn áp dụng phổ biến thời gian từ cuối thế ki thứ XVIII sang thế ki thứ XIX. Từ Gia Long lên ngôi vua, tiếp nối các Hoàng đế Triều Nguyễn sau đó đã cho xây dựng khá nhiều thành lớn theo kiêu nhập ngoại nàv, như : Đô thành Huê, các thành tỉnh Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây… và cả một số đồn canh nho hơn như Ngọc Vừng, Cô Tỏ.
Các thành kiếu Vô bàng thường sứ dụng vật liệu bàng gạch nung già kích thước lớn, mạch trát vữa và mặt tường thành có trố các lỗ châu mai thích hợp ki thuật chiên tranh hồi đó.
Xây dựng trên đất nước Việt Nam ớ Á Đông, trong điều kiện tuv ctã bắt đầu suy sụp và khủng hoảng song vẩn là chế độ xã hội phong kiến, các tòa thành thời nhà Nguvễn nói trên ít nhiều củng có pha trộn và thừa hướng phàn nào truvên thông và kiến trúc các tòa thành thời trước, cụ thế là trong việc lựa chọn vị trí xây thành: thuật phong thuy, thuyết địa lí vẫn là một vếu tố quan trọng; một so kiến trúc như lầu cửa, vọng canh, kì đài . .. và tên gọi của chúng vẩn dùng chữ Hán, phong cách kiến trúc vẩn mang dáng dấp kiến trúc truyền thống cổ xưa. ơ Kinh đô Hue: vòng thành ngoài là mô phỏng kiểu Vó báng, song 2 vòng trong Hoàng thành và Tư cấm thành vẫn là kiến trúc thành cổ phương Đông, không có dấu vết gì là thành cố phương Tây. Nhưng thảnh cổ nhà Nguyền là những kiến trúc quân sự có cuối cùng và còn lại nhiều di tích nhât ở nước ta.