Kiến trúc nhà ở dân gian – P2

Kiến trúc cổ Việt Nam

Nhà sàn người Thái củng là một bộ phận của nền văn hóa vật chất cổ truyền độc đáo: “Ản cơm nếp, uống rượu cần mặc cửa xỏm, ớ nhà sản” của dân tộc Thái – cư dân sống lâu đời ớ Tây Bắc. Nhà sàn người Thái được xây cất theo phong tục tập quán riêng biệt trong quá trình chuẩn bị nguyên vật liệu, chọn địa điểm, chọn hướng nhà, thi công dựng nhà v.v… hướng nhà người Thái thường thống nhất cả bản làng theo một hướng và lấy một ngọn núi làm chuấn (đồng bcào kiêng chọn hướng nhả nhìn vảo khe trống giữa hai ngọn núi), và cũng chọn hướng Nam Bắc là thông thường. Nhà sàn Thái có 4 mái: hai mái phắng hình chữ nhật và 2 mái nhỏ cong hình cánh quạt che 2 đầu hồi. Trên mái nhà sàn Thái, 2 đầu hồi có “khau cút” vút cao, được ghi nhận như là một đặc trưng dân tộc, làm bằng gỗ và có tác dụng trực tiếp là bộ phận cấu tạo nẹp giữ cho lớp tranh 2 đầu hồi khỏi bị tốc khi mưa to gió lớn, đồng thời còn có nội dung tư tưởng và có giá trị thấm mĩ rõ rệt. Nhả sàn Thái còn thường có cửa số (tú tang) làm sát sản nhà, rộng khoảng 60cm, cao hơn lm và có lan can chấn song cao chửng 60cm che chắn, bên trên để trống và mở 2 cánh: Cửa sổ chi mở ở phía trước (phía dưới nhà) không bao giờ mở ở phía sau (phía trên nhà). Hai cửa đi lại thường được mở ra ở chính giữa 2 đầu hồi với 2 tên gọi khác nhau: cứa “Chán” và cửa “Quán”, người nhà đi lại có thế qua cá 2 cứa song chủ yếu là cửa “Chán” còn khách thì quy ước nữ đi lại bằng cửa phía “Chán”, nam đi lại bằng cứa phía “Quản”. Mặt bằng nhà chia làm 2 phần: nửa trên dành làm chỗ thò, chỗ ngủ của các thành viên trong gia đình, khách không bao giờ đi lại qua nửa phần này, nửa dưới dành lầm bếp, tiếp khách, ăn uống, quay sợi v.v..dưới mái đầu hồi phía “Quản”có phan sàn gọi là “Táng Quán” là chỗ ngủ của rể mới đến ớ. Phía”Chán” củng có một tầng sàn gọi là “Táng Chán” – không hoàn toàn nằm dưới mái nhà, dùng làm nơi phơi phóng lương thực, quần áo V. V… xung quanh có lan can chắc chắn. Dưới gẳm sàn nhà, đồng bào Thái cũng tận dụng làm nơi để công cụ sản xuất, chuồng chán nuôi gia súc, chứa củi V. V…

Kiến trúc nhà ở dân gian - P2 1

Những nếp nhà vùng đồng bằng miền xuôi của đồng bào ta thường là những ngôi nhà nền đất. Những ngôi nhà nền đất đã xuất hiện từ thời tổ tiên ta dựng nước Văn Lang, qua các di chỉ khảo cố: Gò Mun (Phú Thọ), Văn Điển (Hà Nội), Thiệu Dương – Thanh Hóa V. V… với những vết tích nền nhà, hố bếp V. V… trong tiến trình lịch sứ óng cha ta từ hang động vùng núi qua trung du về đồng bằng cư trú và trong lúa nước. Nhà nền đất vùng xuôi có kết cấu khung tre thường là lợp tranh lợp rạ, nêu két câu khung gỗ chịu lực lại thường được lợp ngói, sau này có một số nhà là khung gỗ, tường bao quanh bằng gạch hoặc tường gạch chịu lực với vì kèo gô. Nhà miên xuôi lả một khuôn viên bao gồm: nhà chính, nhà phụ (nhà ngang), nhà bếp và chuông gia súc cùng sân, vườn, ao, giếng hoặc bể nước và hàng rào, tường vây quanh, cong ngõ. Nhà chính là bộ phận chủ yếu, lầ nơi cư trú của gia đình thường đặt hướng Nam hay Đông Nam. Nhà có bố cục gian lẻ: 1, 3, 5 hay 7 gian cùng với 2 chái, rất ít nhà có số gian chẵn. Nhà thường có hiên (hành lang) ớ phía trước, có khi cả hai đầu hòi hoặc xung quanh nhà. Trong nhà chính giữa lả bàn thờ tố tiên và phía trước đó là nơi tiêp khách, nơi ngủ của đàn ông ở ngoài nhà, còn chái nhà có tường hoặc vách ngăn dành cho phụ nữ, đồng thời là nhà kho chứa lúa gạo, quần áo vả đồ dùng trong nhà.
Nhà nền đất ở các địa phương khác tùy địa lí và khí hậu còn có những đặc điêm riêng biệt: nhà vùng biển có tỉ lệ thấp lùn, chắc chắn xứ lí cấu tạo giằng buộc chặt che với mái lợp dàv để chống đỡ được gió bão hàng năm, nhà vùng gió Lào Nghệ Tĩnh được chú ý che chắn hướng Tây Nam, bố cục và sử dụng vật liệu có tính chất cách nhiệt, thoáng mát, tường vách có khi chỉ là phên, dại đơn giản. Nhà ớ dân gian vùng Bình – Trị – Thiên củng có loại nhà “rường” được nhân dân địa phương ưa thích, xây dựng với kết cáu bộ khung bằng gỗ và đặc điểm riêng biệt trong kết cấu vì kèo với những đường xoi, nét chạm khéo léo và tế nhị. Nhà ớ vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ với vật liệu địa phương: gỗ, tre, thân dừa, rơm rạ, lá dừa nước… thửa kế “ngôi nhà 3 gian” truyền thống – địa phương gọi là “nhà bát dan” có sự phát triến mớ rộng tùy yêu cầu cụ thế và biến đối thành “nhà tháo bạt” (có nhà phụ trước hoặc sau), “nhà chữ đinh” hoặc xếp song song “nhà xếp đoài”… thường bám ven kênh rạch để tiện chuyên chở, đi lại, sán xuất và sinh hoạt.

Ngoài những ngôi nhà ở dân gian ớ các bản làng nông thôn của cư dân chủ yếu làm nghề nông, chúng ta còn có một bộ phận di sản nhà ớ dân gian thành thị. Những ngôi nhà ỏ dân gian thành thị được xuất hiện và hình thành gắn liền với lịch sử xa hội và phát triển đô thị của Việt Nam. Những thảnh cố Loa, Hoa Lư trước thời kì xà hội phong kiến nước ta hưng thịnh có tính chất là những trung tâm chính trị, văn hóa và có ý nghĩa quốc phòng nhiều hơn là kinh tế. Từ Thăng Long thời Lí Trần phán ánh yêu cầu mới cúa quốc gia phong kiến tập quyền: quyết tâm xây dựng nền kinh tế của nước Đại Việt trở nên hùng mạnh với trung tâm ớ kinh đô, nhiều hoạt động sản xuất thu công và buôn bán diễn ra khá tấp nập đồng thời hình thành các phố phường (thời Lí Tran có 61 phường). Sang thời Hậu Lê Đông Đô – Đông Kinh được quy hoạch và tô chức lại là 36 phường, từ thế kỉ XVII – thời kì Trịnh Nguyễn phân tranh – nội và ngoại thương càng phát triển hơn xưa, các thành thị trớ nên phồn thịnh: Thăng Long (Đỏng Kinh), phố Hiến (Hưng Yên) ớ đàng ngoài và Hội An (Quáng Nam), Thanh Hà (Bình Trị Thiên), Gia Định ở đàng trong là những thành thị và thương cảng có tiếng ở nước ta (tục ngữ: thứ nhất Kinh kì, thứ nhì phố Hiến) đến thế kí XIX thực dân Pháp xâm lược Việt Nam cùng chủ nghĩa tư bản tiến hành khai thác vơ vét và bóc lột của cai, nhân công thuộc địa các đô thị Việt Nam đã phát triến theo kiếu đô thị công thương nghiệp (miền Bắc có Hà Nội , miền Nam có Sài Gòn Chợ Lớn và các địa phương như thành phố cáng Hái Phòng, Nam Định, Hải Dương, Hòn Gai, Huế, Đà Nằng, Quv Nhơn, Biên Hòa, Mĩ Tho V. V…
Do thành thị phát triển kiến trúc ngôi nhà ở dân gian Việt Nam củng được chuyển hóa để phủ hợp với những yêu cầu công năng mới. Song do nhà ớ dân gian là những công trình nói chung tương đối đơn giản kém bền vững và ít vốn đầu tư hơn so với cung điện, dinh thự hoặc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng… nên hiện còn lưu lại không nhiều, rải rác trong một số khu phố cổ của các thành thị xưa và phần lớn được xây dựng trong thế kỉ XIX, XX.
Nhà ở dân gian phố phường Hà Nội xưa được xây dựng dọc theo tuyến đường (phố), trong một tổ chức sản xuất theo nghề nghiệp (phường) vật liệu xây dựng và kết cấu: gạch, sần gỗ, và vì kèo gỗ mái lợp ngói ta, còn một số là tranh tre, lợp lá. Tổ chức mặt bằng và hình thức kiến trúc những ngôi nhà ở dân gian thành thị tương đối kiên cố thường là: loại nhà ống (hẹp ngang 2 – 3 – 4m, dài sâu 20 – 60m), nhà nhiều lớp có sân trong (1 hay nhiều sân), phòng ngoài tiếp giáp đường phố là cửa hàng, bên trong là nhà ở và các nhà phụ bếp, tắm vệ sinh V. V… nhà có số tầng tử 1 – 2 tầng (gác chồng diêm). Những nhà giáp phố thường dủng cửa lùa ở phần cứa hàng, còn bên trong dùng cửa bức bàn, cửa sổ và cứa đi có một số là “thượng song hạ bán” (trên là song dưới là ván).
Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và thế kỉ thời gian, kiến trúc nhà ở dân gian nông thôn và thành thị Việt Nam tuy cũng có sự tiến triển và chuyến hóa cùng tiến trình xã hội song do sự kìm hãm của thế lực phong kiến cầm quyền nén biến đổi rất nhỏ bé và chậm chạp. Ngày nay các ngôi nhà ở của chúng ta trong điều kiện xã hội kinh tế và khoa học kĩ thuật hiện đại đang có những chuyển biến mạnh mẽ đế phù hợp với cuộc sống mối. Tìm hiếu ngôi nhà ớ dân gian cố truyền, chúng ta nhằm góp phần khai thác những đặc điểm cốt cách, kinh nghiệm cổ truyền đế ngôi nhà ở mới hiện nay vừa có tính hiện đại, tính kiến trúc xã hội chủ nghĩa lại vừa có tính dân tộc phong phú.