Kiến trúc nhà ở dân gian – P1

Kiến trúc cổ Việt Nam

Nhà ở là phương tiện cư trú và là tố hợp không gian sinh hoạt văn hóa cúa con người. Nhà ớ được phát triển cùng với tiến trình cua lịch sử xả hội, mức độ kinh tế và vãn hóa cùng sự biến đối về hoàn cảnh địa lí, môi trường sinh sống cua loài người nói chung và cua dân tộc Việt Nam nói riêng. Trong những ngôi nhà ớ dân gian các yếu tô nói trên được phản ánh khá trung thực và sáng tỏ.
Có nhiều phương thức xếp sắp và phân loại nhà ớ:
– Phân loại theo vùng kinh tế và phương thức sản xuất: nhà ở nông thôn và nhà ở thành thị.
– Phân loại theo dân tộc, phong tục tập quán tộc người: Việt (Kinh), Mường, Tày Nùng, Thái V. V…
– Phân loại theo vùng địa lí: nhà ở miền xuôi, miền trung du, miền núi, miền biển, vùng gió Lào Nghệ Tĩnh, vùng đồng bằng sông Cửu Long V. V…
– Phân loại theo hệ thống kết cấu chịu lực và vật liệu xây dựng chu yếu: nhà ơ tranh, tre, nứa, lá, nhà ở gỗ, gạch, ngói V. V…
– Phân loại theo mặt bằng không gian kiến trúc: nhà ở nền đất, nhà sàn hoặc hỗn hợp phần nền đất, phần có sàn V. V…
Trái qua một thời kì dài của thời nguyên thủv, con người sống chu yếu dựa vào hang động thiên nhiên trong thời kì đồ đá cũ, sau đó là hậu kì đồ đá mới – sự sinh song bắt đầu có tổ chức, thoạt đầu là sự liên kết các bộ lạc dần tiến lên sự thành lập nhà nước Văn Lang và nền văn minh lúa nước. Tổ tiên chúng ta thời các vua Hùng dựng nước đã tiến ra cư trú ở những vùng đất rộng lớn tử trung du tới đông bằng, đê thuận tiện cho sản xuất sinh sống cho nên phải làm nhà ở để cư trú che nắng, trú mưa và chống thú dữ… nhả ở trong các khu cư trú – làng xóm đầu tiên này thường là kiểu nhà sàn, thích hợp với địa thế những triền đất dốc, vùng cây rửng chưa khai thác hết, và nền đất còn lầv lội. Con người có thể qua đó vừa đấu tranh lại vừa lợi dụng được thiên nhiên khắc nghiệt và phong phú tài nguyên. Di tích nhà sàn cố xưa đa được phát hiện ở di chí khảo cổ Đông Sơn (Thanh Hóa) và Phùng Nguyên (Vĩnh Phúc): những hố chôn cột nhà và nhiều cột chôn đứng, có những cột bằng gô đinh dài 4 – 5m, cách chân cột trên lm có những lỗ đục để gác dầm xà, kiếu liên kết mộng đơn giản. Đồng thời qua hình ảnh những ngôi nhà sàn được khắc họa trên các trống đồng cổ xưa, có thể luận đoán có 2 kiểu nhà sàn: một loại kiểu mái cong hình mui thuyền, sần thấp và thường thấy là chưa có vách, đuôi mái gối sát sản nhà và làm nhiệm vụ của tường ngoài luôn. Một loại khác kiểu mái hơi võng giữa, hai mái đổ xuống hai bên – mái nhà ăn nghiêng thẳng xuống sàn, cửa được trổ ở hai đầu và hai đầu được uốn cong thành hình con “kìm” như ta thấy trên các nóc đình làng sau nàv, giữa nóc nhà có trang trí hình chim.
Cho đến ngày nay, nhà sàn vẫn còn thích nghi và được sử dụng xây dựng nhiều ớ miền núi với nguvên liệu chủ yếu là thảo mộc khai thác ở rừng cây nhiệt đới. Nhà sàn người Việt cổ truyền tương đối bền vững quv mô kết càu bằng khung gỗ với toàn bộ cấu kiện cột kèo dầm xà, ván lát, cầu thang… nhà thỏ sơ đơn gián thì bằng tre bương và ít gỗ hơn, không mộng chốt, liên kết bằng gá gác, thắt buộc dây dợ hay song mây sơ sài. Tất cả mọi tổ chức ăn ở sinh hoạt khác đều ớ trên sàn. Thậm chí sân ( sân sau hay sân trước) đều đế phơi phóng quần áo, thóc lúa, ngô khoai… củng đều ở trên sàn và thường được xử lí thấp hơn sàn nhà 1 -2 bậc lên xuống. Bếp thường được đặt ở giữa nhà dùng để đun nấu và sưởi ấm cho người, đồ dùng, lương thực và toàn bộ ngôi nhà được khô ráo, khỏi bị ẩm thấp bởi khí hậu vùng núi, vả cũng là nơi tụ họp của gia đình sau bữa ăn và một ngày lao động mệt nhọc, do đó có ý kiến: khái niệm nhà có gian lẻ 3 – 5 gian bắt đầu tử khi có nhà sàn. Sàn gác của nhà sàn là phần sinh hoạt chủ yếu của ngôi nhà ớ: là nơi ở với các buồng ngủ được ngăn riêng, nơi tiếp khách, nơi chuấn bị bữa ăn và có khi còn là nơi sản xuất thủ công tự cung tự cấp (có khung cửi dệt vải, dệt chăn, dệt thổ cấm v.v…). Tầng dưới cùng nhà sàn thường được bỏ trống, hoặc một phan mặt bằng được quây lại sử dụng làm chỗ nuôi trâu bò, lợn gà v.v… mái nhà thường có độ dốc lớn, đế lợi dụng không gian kiến trúc người ta gác thêm tang lưng là nơi chứa thóc lúa ngô khoai cho khô ráo khỏi mối mọt và dể dàng trông coi bao vệ trong điều kiện khuôn viên đơn lẻ; Đồng thòi khi mưa lớn thoát nước nhanh chóng thuận lợi. Mái nhà có dạng 2 mái, 4 mái hay 3 mái (đau hồi dựng đứng) và lợp bằng lá gồi, lá tranh, dại nứa hay ngói chiếu hoặc ngói âm dương tùy điều kiện và tập quán địa phương.

Kiến trúc nhà ở dân gian - P1 1

Ngoài những đặc điểm chung và tương tự, kiến trúc nhà sàn ở mỏi địa phương, tộc người lại có những khác biệt: nhả sàn ớ bản làng Tày Nùng ớ Cao Bằng – Lạng Sơn thương bố trí song song hình chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Tam. .. theo triền đất, đồi núi phía sau lưng và mặt nhà quay ra thung lũng phía trước – nơi ruộng đóng và môi cánh thiên nhiên rộng rãi thoáng mát, bố cục kiến trúc mặt bằng thường hẹp ngang và sâu lòng (có nhà tới 7 – 9 hàng cột), khác hẳn nhà người Việt ớ vùng xuôi thường dàn trải chiều ngang. Nhà chia làm 2 phần: thang chính lên sàn thường đặt ơ phía bẽn phai, thang phụ ớ phía bên trái. Phần nhà ngoải bên phải dành cho sinh hoạt của nam giới và củng lả nơi tiếp khách, đặt bàn thờ tố tiên; phần nhà trong bên trái dành cho sinh hoạt của nữ giới và củng là nơi đặt nhà bếp, nơi ăn uống và người phụ nư làm các công việc nội trợ gia đình. Tường vách thường có đố, bưng ván móng hay che chắn bằng phên nứa. Kết cấu vì kèo có cột chống thắng lên nóc, xen giữa 2 cột là một hay 2 trụ hình quả bầu, quá bí và mái nhà sàn phan lớn là dạng 4 mái.
Nhà sàn ở bản lảng người Mường vùng Hà Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa… có kết cáu vì kèo đơn nhất hơn nhà sàn người Việt và Tày Nùng: vì kèo cổ truyền đơn giản chỉ có 2 cột cái vả 2 cột con cùng một quá giang và một “quết đồ” (một đòn ngắn giằng 2 thanh kèo), mỗi vì kèo đều có khóa kèo (còn gọi là Tà Wóc hay cái Cu) mặt bằng sinh hoạt của nhà sàn người Mường gần gũi với nhà sàn người Việt hơn và cũng chia làm 2 phần trong và ngoài củng sử dụng không gian trên và dưới tương tự nhà sàn Tàv Nùng.