Kiến trúc lăng mộ

Kiến trúc cổ Việt Nam

Lăng mộ được coi như ngôi nhà ở, do đó không những được xây dựng chu đáo cấn thận, thậm chí theo kiểu mẫu quy mô ngôi nhà cổ xưa kia của người chết mà còn được chôn theo các đồ tuy táng, nhiều ít tùy mức độ kinh tế đương thời và có khi cả một số người thân cận, phục vụ còn sống như quan, quân, cung tần, mĩ nữ V. V… của một số ông vua, để có thể tiếp tục cuộc sống đầy đủ, hướng lạc ở thế giới bên kia.
Có thế chia ra làm 2 loại mộ táng:
1. Mộ táng của những người thế tục, trong xã hội phong kiến nói chung chia ra làm 3 loại theo giai tầng xã hội:
– Mồ mả của nhân dân quần chúng lao động nói chung
– Lăng mộ của quan chức quý tộc hoàng gia
– Lăng tấm của các vua chúa – đỉnh tột cùng của bậc thang xã hội.
2. Mộ táng của những người tu hành. Cách thức xây dựng và hình thức kiến trúc có khác những người trần tục, như tháp mộ sư trong các nhà chùa của đạo Phật.
Kiến trúc lăng mộ cũng như các loại hình kiến trúc cổ khác, phản ánh trung thực trình độ kĩ thuật và nghệ thuật của đương thời.
Thời kì cổ đại và sau đó nước Văn Lang hình thành và phát triển, hình thức chôn cất của ông cha ta còn đơn giản, kiến trúc mộ táng còn sơ sài: chôn trong huyệt đất, tiểu bằng gốm, hỏa táng hoặc dưới mộ đất là những quan tài hình thuyền độc mộc… như các di tích khảo cố học thời Hùng Vương: Triệu Dương, Đông Sơn, Việt Khê vùng Phú Thọ đã chứng minh.
Những kiến trúc mộ táng cổ đáng kể và còn di tích đến ngày nay xuất hiện ơ thời kì lịch sứ tiếp theo: thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và báo vệ (ịuốc gia phong kiến độc lập. Qua tài liệu kháo cổ học: những kiến trúc mộ táng từ thế kỉ thứ nhất đến thế kỉ VI là những công trình kiến trúc bằng gạch, qua các di chi ở Đông Sơn (Thanh Hóa), Nghi Vệ (Hà Bắc), cổ Bi (Văn Điển – Hà Nội) V. V… Có những ngôi mộ xây theo kiểu cách mộ Hán bên phương Bắc với quy mô nhó hơn: xây gạch cuốn và đổ đất bên trên thành một gò đất lớn, hiện rải rác còn khá nhiều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ: Hà Nội, Hà Bắc, Hải Hưng V. V… chú nhân các ngôi mộ táng thường là những quan chức người Hán vầ người Việt có địa vị cao trong xã hội lúc bấy giờ. Mộ táng có kích thước khá lớn và phong cách có chú ý thẩm mĩ nhát định. Vật liệu xây dựng mộ thường là những viên gạch có độ nung già. Gạch hộp kích thước 40x30cm và gạch múi bưới (gạch lưỡi búa) đế xây cuốn, có trang trí nổi hình quả trám đời Hán, hình chữ s hoặc con giống, hoa lá tương tự trang trí một số đồ gốm cổ thời văn hóa Đông Sơn.

Thời Lê (sơ), năm 1427 vừa mới chiến thắng giặc Minh lên ngôi vua, Lê Thái Tố đả xuống chiếu cho sửa sang lại các lăng mộ của triều đại trước và cấp người lo việc thờ cúng. Mộ phần của nhân dân cũng được triều đình ban bố luật bảo vệ, nghiêm cấm việc phá hoại và quy chế xây cất rõ ràng. Sau khi Lê Lợi từ trần, triều đình đã rước linh cữu đưa về an táng tại Lam Sơn và từ đó khu vực này trớ thành nơi yên nghỉ ngần đời của các ông vua, bà hoàng thời Lê (sơ) – có 6 ông vua đầu triều nhà Lê đều đặt mộ tại Lam Kinh: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tòng, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông, ngoài ra còn phần mộ một số hoàng hậu, công chúa khác nữa. So với thời Trần các lăng mộ thời Lê (sơ) ớ Lam Kinh và một số địa phương còn lại đến ngày nay có số lượng nhiều hơn, di tích trọn vẹn hơn:
– Lăng Lê Thái Tổ được xây cất ngay sau điện Lam Kinh ở Lam Sơn. Mặt bằng lăng hình vuông 24m X 24m, xung quanh có tường bao bọc. Phía trong cùng lầ phan mộ bằng đất, bó gạch. Dọc theo đường trục vào lăng là 5 đôi tượng đá: quan hầu, lân, tê giác, ngựa và hổ đứng chầu đăng đối hai bên với một khoảng cách khá đêu đặn. Trong khu vực lăng còn có kiến trúc nhà bia Vĩnh lăng (mới tu sửa lại năm 1960).

Kiến trúc lăng mộ  1

– Lăng Vua Lê Thái Tông (Hựu lăng) xây dựng năm 1442 cũng ở phía sau điện Lam Kinh, trên một quả đồi về phía Đông Bắc. Hiện nay lăng bị hư hỏng nặng các dấu vết kiến trúc phần mộ, điêu khắc tượng đá V. V… không còn gì đáng kể.
– Lăng Lê Nhân Tông (Mục lăng) cũng được xây cất ở đây song hoàn toàn không còn vết tích.
– Lăng Lê Thánh Tông (Chiêu lăng) xây dựng năm 1498, nằm ở phía trái điện Lam Kinh. Bố cục kiến trúc và điêu khắc tượng đá đứng chầu tương tự lăng Lê Thái Tố, củng có một bia đá khá lớn trong lăng (cao 2m80 rộng lm90) song không có kiến trúc nhà bia.
– Lăng Lê Hiến Tông (Dụ lăng) xây dựng năm 1504 nằm ớ phía bên phải điện Lam Kinh, về phía Tây Bắc. Bố cục mặt bằng kiến trúc và điêu khắc tương tự các lăng đời trước nhưng quy mô nhó hơn và có tường xây bao bọc quanh lăng. Bia đá phía trước đường thần đạo vẩn còn và có kích thước, chạm khắc trang trí tương tự bia ớ lăng Lè Thánh Tông.
– Lăng Lê Túc Tông (Kính lăng) xây dựng năm 1505 cách điện Lam Kinh khá xa và nay củng chỉ còn là một phế tích.
Ngoài ra ở Lam Sơn còn có các lăng bà hoàng Ngô Thị Ngọc Giao (vợ Lê Thái Tông) ở phía Đông Bắc điện Lam Kinh, được xây dựng cùng thời Chiêu lăng nên có bò cục kiến trúc và điêu khắc tượng đá tương tự; lăng Nguyền Thị Ngọc Huyên (vợ Lê Thánh Tông) xây dựng cùng thời Kính lăng, nên cũng không khác lắm và đặt gẩn Kính lăng của vua Lê Túc Tông.
Ớ các địa phương khác, còn nhiều di tích lăng mộ của họ hàng thân tộc các vua thời Lê (sơ) như: mộ Quận thượng chúa Lê Quỳnh Cư cháu vua Lê Thánh Tỏng ớ Thường Tín (Hà Tây), lăng một bà vợ khác của Lê Thánh Tông – An Tiết lăng – ớ Hai Hà (Thái Bình) v.v… các ông vua cuối thời Lê (sơ) sau Lê Túc Tông như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực v.v… do ăn chơi sa đọa nên cầm quyền không trọn vẹn, bị chiếm đoạt phế truất hoặc giết đi nên khi chết không được mai táng trọng thế và đặt lăng mộ ớ Lam Sơn mà để ở nơi khác (ở Tiên Sơn – Hà Bắc đả phát hiện mộ của vua Lê Uv Mục chôn năm 1510) với kiến trúc là mộ hợp chất đơn giản sơ sài hơn.