Kiến trúc đình làng – P2

Kiến trúc cổ Việt Nam

Lịch sứ phát triến cúa ngôi đình làng dân tộc gắn liền với những thời kì phong kiến độc lập tự chú từ hưng thịnh đến suy tản. Ngôi đình có niên đại sớm nhất ở nước ta là một ngôi đình ở cạnh động Thiên Tôn Hoa Lư (Ninh Bình) xây dựng từ thế kí X, song đó không phải là một công trình tôn giáo tín ngưỡng mà là một kiến trúc công cộng: một “đình trạm”, dùng làm nơi tạm dừng chân của các sứ bộ các châu mục… từ ngoải đến xin vào bái yết triều đình các vua Đinh – Tiền Lê. Hiện nay không còn di tích rõ rệt song củng còn một số dấu vết ớ địa điểm xây dựng ngôi đình cổ nói trên.

Trải qua thời Lí, Trần, cụ thể hơn là đầu thời Trần – theo chiếu chí của các vua nhà Trần, nhiều địa phương đã xây dựng kiến trúc “đình trạm” tương đối rộng khắp làm nơi nghi cho những người đi đường dừng chân, đồng thòi có thờ tượng Phật, do Phật giáo vẩn đang hưng thịnh trong xã hội nước ta. Cũng có ý kiến: thời kì thái bình thịnh trị trong lịch sử này, các Thái thượng hoàng và vua Trần có quan hệ tương đôi mật thiết với đời sống quần chúng nhân dân, hay đi tuần du, vi hành vê các địa phương, do đó “đình trạm” còn là nơi nhân dân và quan chức sở tại tiếp đón các nhà vua, sau dần trớ lẽn “đình làng” với chức năng giải quyết công vụ. Những chữ “Hoàng Đe vạn tuế”, “Thánh thọ vô cương”, “Thánh cung vạn tuế”… trên các hoành phi, phù điêu ơ một số đình làng có thể là ý nghĩa nói trên, song cũng có khía cạnh biếu thị chẽ độ quân chủ tập quyền qua kiến trúc đình làng – Trụ sở hành chính và hạ tầng cơ sớ của bộ máv cai trị xã hội phong kiến – đề cao chính thế quân chủ, gây uy thê cho các nhà vua. Qua các thời kì Lê (sơ) rồi đến thời Mạc, từ chức năng ngôi nhà dịch vụ công cộng, kiến trúc đình lảng đã dần dần biến đổi thành một công trình đa năng, thay the thờ Phật bằng thờ Thành Hoàng làng, xuất hiện hàng loạt trong những thế kỉ XVII, XVIII và có thể xếp sắp vào loại hình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng  nước ta.

Kiến trúc đình làng - P2 1

Thời Mạc (thế kỉ thứ XVI đã gây dựng nhiều ngôi đình quy mô lớn: đình Tây Đằng, đình Thanh Lũng (Ba Vì – Hà Tây), đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa – Bắc Giang), đình Thố Hà (Việt Yên – Bắc Giang) là những công trình nghệ thuật kiên trúc kêt hợp trang trí điêu khắc khá hoàn chỉnh của làng xã. Từ thời Lê Trung Hưng (thế kí thứ XVII) kiến trúc đình làng rầm rộ phát triển rộng khắp trong các làng xã ở thôn quê Việt Nam với sự đóng góp của quần chúng nhân dân và thực sự trớ thành những công trình đâu tư và sáng tác tập thể. Địa phương nào cũng muốn có được một ngôi đình to đẹp đàng hoàng để làm bộ mặt cho làng xã, hãnh diện với các nơi khác cho nên sự đóng góp của dân đinh rất tự nguyện và sôi nối hăng hái. Trong thi công kiến trúc và trang trí nội thất, có những đình làng do nhiều hiệp thợ cùng làm, mỗi hiệp thợ được phân công một phan việc, không ai bảo ai, ra sức trố tài… song khi hoàn thành công trình toàn bộ lắp ráp hoàn chỉnh và thống nhất đến cục bộ chi tiết, lại có biến hóa phong phú tùv tài tùv hứng các nghệ nhân. Nhiều chi tiết đối xứng nhau, cấu kiện có tính năng như nhau nhưng không hề có sự lắp lại. Do không bị quyền lực nào gò bó, công thúc như chế độ trưng tập xây dựng kiến trúc cung đình dinh thự cho các vua quan, nên kiến trúc đình làng mang tính dân gian đậm nét và độc đáo hơn tất cả các loại hình kiến trúc cổ khác, đồng thời nghệ thuật chạm khắc và văn hóa dân gian khác cũng qua hội hè đình đám và ở đấv mà nẩy nở, phát triến khá mạnh mẽ đúc kết và thế hiện tài năng khéo léo, trí tuệ sáng tạo của nhân dân lao động chúng ta. Những ngôi đình có giá trị kiến trúc và nghệ thuật được xâv dựng trong thời kì nầy, nay còn lại: Đình Tho Tang – Vĩnh Phúc, đình Hương Canh – Vĩnh Phúc, đình Hoàng Xá – Hà Tây, đình Thổ Hà – Bắc Giang (trung tu 1686), đình Phù Lão – Bắc Ninh.

Sang thời Lê Mạt (thế kỉ XVIII) việc xây dựng đình làng có sự giam sút do hoàn cảnh xã hội, kinh tế suy thoái tuy nhiên vẩn xuất hiện nhiều kiến trúc đình làng quy mô đồ sộ trang trí tinh xáo: đình Thạch Lỗi – Hải Dương, đình Chu Quyến – Hà Nội, đình Nhân Lí – Hải Dương, đình Đình Báng – Bắc Ninh.
Triều Nguyễn (thế kỉ XIX) dưới thời vua Gia Long củng còn xây dựng được một số đình lớn: đình Tam Tảo – Hà Bắc, đình An Đông – Quảng Ninh… song giá trị nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc dân gian đả giám sút đi nhiều. Cuôi thời Minh Mạnh nhà Nguyễn, đình làng được xây dựng nhiều hơn: ơ vùng đồng hằng một số đã phố biến dùng vôi gạch, còn ớ miền núi gỗ vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Kiến trúc đình làng không còn chỉ là của các làng xã miền xuôi, mà có ở nhiều địa phương miền ngược: đình Tân Trào (Tuyên Quang) đã trở thành một di tích lịch sứ cách mạng nước ta – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Đại hội quốc dân và thành lập Chính phù cách mạng lâm thời của chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trên đất miền Nam, tử thời kì này củng bắt đầu xây dựng kiến trúc đình, song do tính chất và tổ chức xã hội nông thôn có khác miền Bắc nên vai trò và chức năng công cộng bị mờ nhạt và thiên ve tôn giáo tín ngưỡng, lễ bái thánh thần gần với ngôi đền nhiều hơn, đồng thời rất ít cóng trình có giá trị kiến trúc và mĩ thuật truyền thống.
Cho đến ngày nay, trái qua thời gian và chiến tranh hủy diệt bao cõng trình kiến trúc cố xưa, song di tích của loại hình kiến trúc cố truyền và đậm đà sắc thái dân gian của ngói đình làng vẩn còn tồn tại khá nhiều trên khắp các địa phương và khá tập trung ở vùng đồng bằng trung du miền Bắc. Kiến trúc đình làng củng với cây đa, giếng nước, cổng làng… là hình ánh quen thuộc của nông thôn Việt Nam, không những lưu lại bằng sản phấm vật chất cụ thể mà còn đi vào tâm hồn tình cám người Việt Nam qua văn học dân gian: tục ngữ, ca dao, dàn ca…