Kiến trúc đình làng – P1

Kiến trúc cổ Việt Nam

Đình làng là công trình kiến trúc cổ truvền bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điếm nghệ thuật kiến trúc trong sáng, độc đáo, tính dân tộc phong phú, đậm đà sác thái dân gian và ít chịu ảnh hưởng ngoại lai hơn tất cả các loại hình kiến trúc cổ Việt Nam xây dựng trong xã hội phong kiến xưa.
Đình làng có thể xếp vảo loại hình các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng vì lả nơi thò thành hoàng – vị thần báo hộ cứa mỗi làng Việt cố truyền, phong tục tín ngưởng trong xà hội Việt Nam cận đại.
Đình làng còn có thế xếp vào loại hình kiến trúc công cộng dân gian vì đó là một trung tâm sinh hoạt chính trị và xá hội của làng – tế bào sống vầ đơn vị cư trú cua xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945: là trụ sớ hành chính cua xã thỏn, nơi hội họp của Hội đồng kì mục để bổ bán binh dịch, phân chia công điên công tho, đặt khoán ước và giải quvết cõng vụ tranh chấp, kiện cáo, thu thuế, thu sưu, phạt vạ, ăn khao v.v… Trong những ngày hội làng – thường là ngày giỗ thành hoàng – đình làng lại trở thành trung tâm ván hóa của làng xã, trình bày và biếu diển tat cá kho tàng văn hóa dân gian tích lũy từ đời này qua đời khác cua địa phương, với sự tham gia nhiệt tình và sỏi nổi qua rước lề, các trò chơi, hát múa dân gian v.v… thu hút mọi lứa tuổi và lôi cuốn hầu hết dân làng tham dự. Do những chức năng nói trẽn, đình làng rõ ràng là một cóng trình kiến trúc đa năng và tống hợp, từ năm 1912 một học giả người Pháp p. Girăng đã viết: “Đó là nơi thực hiện tất cả những sự kiện đời sống vả xả hội Việt Nam” và đến ngày nay đình làng vẩn là một đối tượng vả đề tài lí thú của các nhà nghiên cứu xã hội học, nghệ thuật và kiến trúc.

Kiến trúc đình làng - P1 1

về bố cục tống thể không gian: địa điểm xây dựng đình làng thường không quá xa mà gắn liền với khu ở của dân làng, thế đất hẹp song tầm nhìn mơ rộng và phỏng khoáng. Đình có thể là một công trình đơn độc, hợp khối hay là một quân thê kiên trúc phản tán hay nửa phân tán, cũng có khi kết hợp xây dựng cùng các kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng khác: chùa của Phật giáo, Văn chi cua Không giáo va đen miêu cua đạo Giáo. Phía trước đình làng thường có sân rộng, hồ nước, cây xanh tạo canh v.v… để thóa màn công năng tập hợp đỏng đáo dân làng những ngày lé hội, VUI chơi giãi trí… tổng thê kiến trúc được bố cục nhấn mạnh tính hoành tráng, tính chiều hướng rõ rệt bằng hệ thống trục chính, trục phụ theo kiểu bố cục trung tâm kết hợp với bo cục chiều sâu và giai pháp khỏng gian quy hoạch được tố chức có sự gắn bó hài hòa cua 3 loại không gian kiến trúc: kín, nửa kín và thông thoáng nhằm phục vụ chức năng đa dạng tổng hợp của công trình.

– Hậu cung – là nơi thờ thần – Thành hoàng làng, giữ các vật thiêng liêng, đồ thờ cúng đòi hỏi một không gian không lớn lắm nhưng phái ớ vị trí trung tâm kín đáo đẽ tạo nên không khí thần bí, trang nghiêm. Trong kiến trúc đình làng, đây lả một dạng không gian quây kín cố định, nằm lọt ngay trong gian trung tâm cua tòa Đại đình (Đình Chu Quyến – Ba Vì – Hà Tây) hoặc được bố cục riêng biệt một nếp nhà ớ phía sau và nối tiếp với tòa Đại bái bằng một nhà cầu “ống muống” (đình Đình Báng – Tiên Sơn – Bắc Ninh).
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng trong xã hội Việt Nam cận đại có nhiều nguồn gốc phức tạp, có Thành hoàng là một nhân thẩn: Trung thần nghĩa sĩ có công với nước với dân của địa phương mình hay lảng xã khác (Lí Bí, Triệu Quang Phục, Tran Hưng Đạo…), nhãn vật theo truyền thuyết và huyền thoại: Thánh Tán Viên (Sơn thần), có khi là ông tổ một dòng họ, một nghề thủ công truyền thống tập hợp nên làng xã (Đình Vạn Phúc Hà Tây), do đó có Thành hoàng làng là nhân thần song cũng có rhành hoàng lả thiên thần. Triều đình phong kiến tập quyền Việt Nam xưa đã khéo léo lợi dụng tín ngưỡng dân gian thờ Thành Hoàng ở các đình làng, quy tất cá các vị Thảnh hoảng làng vào hệ thống tôn ti trật tự của nền quân chủ, nhà vua phong “sắc” cho từng vị Thành hoàng, kèm theo sắc phong có bán “thần Phá” cùa bộ lê đế đề cao chính thế quán chu và triều đình.

– Đại Đình – là nơi hành lễ sinh hoạt công cộng và hành chính công vụ nên đòi hỏi diện tích và không gian khá lớn, trang trọng bề thế, gắn liền với hậu cung nhưng mặt khác lại có thế mở rộng đối với không gian rộng lớn và thiêng liêng bên ngoài. Giái pháp kiến trúc thông dụng của kiến trúc tòa Đại đình các đình làng thường là một nếp nhà rộng lòng 5-7 gian hoặc 9 gian có chái hay không có chái; 4 mặt nhà được lồng cứa bức bàn bưng kín hoặc củng có công trình để thông thoáng với những hàng cột và lan can đơn giản. Những ngôi đình làng tương đoi quy mô thường được cấu tạo sàn sạp bằng ván gỗ với 3 mức cao thấp khác nhau, thế hiện rõ sự phàn câp phân hạng rõ ràng về ngôi thứ và quyền lợi của làng thôn Việt Nam trong xã hội phong kiến những dịp tế lễ, hội hè kế cá khi ăn uông…
Tòa Đại đình là không gian chủ yếu và chính thống nhát của kiến trúc đình làng, mang nhiều ý nghĩa và yêu cầu sứ dụng cổ truyền, và là di duệ của ngôi nhà làng cõng cộng xa xưa từ thời Hùng Vương dựng nước mà lưu ảnh còn lại trên các trống đồng cổ Ngọc Lũ và Hoàng Hạ, tương tự tính chất các ngôi nhà rông của bán làng các dân tộc Tây nguvên ớ miền Nam Trung Bộ nước ta. Hệ thong kết cấu gỗ: cột, xà ke, bảy theo hệ chông rường hoặc giá chiêng, liên kêt chủ yêu băng mộng mẹo tạo nên thê cân bàng và vững chắc cho kiến trúc ngôi đình. Những hàng cột lớn, cột con đứng thắng trên các hòn kê bằng đá tảng và sức nặng toàn bộ mái, các vì xà, truyền qua các cột xuống hòn tảng không cần móng.

Nhìn từ bên ngoài: mái đình có tỉ lệ đồ sộ, khá dày, chiếm 2/3 chiều cao ngôi đình, bon góc xoè rộng uốn lượn nhẹ nhàng. Bờ nóc hơi võng, có khi 2 đâu nhó cao vút ra ngoài như hình con thuyền lớn, có khi được đắp hình đôi rồng chầu vòng sáng (lưỡng Long chầu Nguyệt) các bờ dải có đắp hình trang trí con xỏ, com kìm… củng các đường gờ đường xoi của lá mái, lá diềm, đao đình tạo nên những đường nét duyên dáng, tương phản rõ rệt với các nhà ớ thôn xóm lân cận và lại hòa hợp với thiên nhiên cây cao, hồ rộng, đồng ruộng mênh mông xung quanh.

– Nhà Tiền tế – thường có kích thước và quy mô nhó hơn tòa Đại đình, mặt bằng hình chữ nhật hay hình vuông và đa số không có cửa vách bao quanh.
Củng với sân đình, các hành lang Tả vu, Hữu vu, Tam quan… nhà Tiền tê là bộ phận nối tiếp giữa kiến trúc đình làng và ngoại cảnh tổng quan, can thiết khoáng đạt rộng mở đế dể dàng tập hợp quần chúng đông đáo tiến hành rước lê hoặc giải trí vui chơi.
Cả 3 thành phần kiến trúc nói trên được tổ hợp trải ra theo một đường trục thống nhất nhằm tạo được không khí trang nghiêm, hoành tráng của đình làng mà trọng tâm là tòa Đại đình. Tùy nơi, tùy hoàn cánh cụ thể mà các thành phan và công nãng tương ứng được kết hợp hay tách biệt đế tạo nên những kiến trúc dinh làng hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh, hợp khối tập trung hay phân bán hoặc nửa phân tán. Dù bố cục thế nào, tạo hình kiến trúc đình làng củng nổi lên là một bộ phận và biếu tượng vật chất của làng quê Việt Nam.