Kiến trúc Di Hòa Viên

Đô thị cổ Bắc Kinh

Nghệ thuật vườn cảnh là một mặt của di sản văn hóa truyền thống ở Trung Quốc để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho những ai yêu thiên nhiên, yêu nghệ thuật. Khác với nghệ thuật vườn cảnh các nước Âu Tây được diễn đạt trên những không gian rộng, nghệ thuật vườn cảnh Trung Quốc khéo léo tận dụng mọi không gian to nhỏ, bài trí tinh tế, thâu tóm những cảnh trí đặc sắc của tạo vật để dựng nên những cảnh quan vừa thiên nhiên vừa nhân tạo hết sức đặc sắc. Nghệ thuật truyền thống này đã để lại rất nhiều nơi trên đất nước Trung Quốc những tác phẩm độc đáo với quy mô khác nhau, từ vườn cảnh hoàng gia đến các tư gia quyền quý hoặc bình dân. Trong số những tác phẩm độc đáo ấy, di hòa viên ở Bắc Kinh là một kiệt tác không gì sánh nổi.

Bắc Kinh vốn là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc nên các đền, đài, cung điện ở đây không thời nào là không có những xây dựng
mới. Công viên Di Hòa cũng có một lịch sử dài lâu như vậy. Nằm ở phía tây bắc thủ đô cách trung tâm gần 20 km, nơi đây vốn là một hành cung của nhiều triều vua, một địa điểm gắn liền với vùng rừng núi Tây Sơn. Từ thế kỷ XII đã có một hành cung mang tên Kim Sơn do nhà Kim tạo dựng, về sau vào các triều đại Nguyên, Minh, Thanh, địa điểm này luôn được khai thác và được bổ sung những công trình mới.

Kiến trúc Di Hòa Viên 1

Vào giữa thế kỷ XVIII dưới triều vua Càn Long nhà Thanh, khu vườn mang tên Thanh Y viên trong đó có xây dựng chùa Báo Ân và tháp Thiên Thọ, được nhà vua xây dựng đê bày tỏ lòng hiếu của vua đối với mẹ vào dịp mừng thọ mẹ. Vào năm 1860 khu công trình đã bị quân xâm lược (Anh, Pháp) đốt phá. Đến năm 1886 Từ Hy Thái hậu đã dùng một khoản tiền rất lớn (định đầu tư cho ngành hải quân, hơn 5 triệu lạng bạc) để chuyên xây dựng những công trình vui chơi giải trí và làm đẹp cho khu vườn lúc này mang tên Di Hòa viên, công việc kéo dài gần 10 năm. Rất tiếc những công trình mỹ lệ này lại bị liên quân xâm lược của 8 nước tàn phá vào năm 1900 và phải đến năm 1908 mới được khôi phục và tu bổ. Vào thời trước cách mạng khu vườn đã được mở cửa cho đông đảo người vào xem (từ năm 1924) và đến sau ngày giải phóng Di Hòa viên được Nhà nước tu bổ và xếp hạng bảo tồn, được mở cửa cho quần chúng vào thãm và trở thành một tài sản quý giá của quốc gia.

Địa bàn được quy hoạch khu vườn vốn đã là nơi có cảnh đẹp với hồ Côn Minh và núi Vạn Thọ, toàn khu rộng 290 hecta, ba phần là hồ ơ phía nam, một phần là núi ở phía bắc. Ven chân núi phía bắc cũng có một dải nước đẹp gọi là Hậu hồ. kiến trúc chủ đạo của toàn cảnh quan là Phật Hương các nằm ở điểm cao gần đỉnh núi hơi chếch về phía nam, có trục chính trông thẳng ra hồ Côn Minh. Cùng trên trục này ở phía dưới thấp là Bài Vân điện, cung điện dành cho những buổi làm việc của Từ Hy Thái hậu với các cận thần.
Chạy dài theo các bờ hồ phía nam của núi Vạn Thọ là một hành lang dạo mát gồm 273 gian, chiều dài hành lang tới 728 m và mang tên Trường lang. Suốt chiều dài Trường lang đều có trang trí vàng son lộng lẫy với hơn 8000 bức tranh trình bày những sự tích liên quan đến lịch sử và dã sử, cùng với những trang trí khác về phong cảnh và hoa lá, chim muông. Hành lang chạy thẳng ở hai đầu và cong hình cánh cung ở khúc giữa chỗ đối diện với Phật Hương các, giúp cho khách đi thăm có nhiều cảm nhận khác nhau suốt dọc hành lang về những cảnh trí đặc sắc bên hồ bên núi.

Đầu phía đông của Trường lang là một quần thể kiến trúc rất phong phú bao gồm các tòa Đông cung môn (cửa vào chính phía đông), Nhân Thọ điện đều nằm trên trục chính lối vào công viên, phía bắc của trục có Tri Mộ đình, Văn Xương các… Kết thúc đầu phía tây của Trường lang là một cụm kiến trúc không kém phần đặc sắc gồm Xuyên Đường điện, Họa Trung du, Cân Lệ quán và đặc biệt là công trình đá trắng hình thuyền mang tên Thanh Án. Công trình được xây dựng vào năm 1755 có hình thuyền ghé bờ nước, thân thuyền dài 36m tạo bởi một khối đá lớn như một sàn vươn ra bờ nước, bên trên có ngôi nhà hai tầng làm nơi vui chơi ngắm cảnh. Người Trung Quốc có câu “thuyền nổi trên nước, nước đưa thuyền trôi”, ở đây nhà Thanh muốn thể hiện một triều đại vĩnh cứu không thể “trôi đi” bằng hình tượng con thuyền đá cố dịnh bên bờ nước.

Ngoài những công trình đặc sắc nêu trên, rải rác ven hồ và trên mặt hổ Côn Minh cũng như phía Hậu hồ còn vô vàn các công trình độc đáo như cây cầu đá vòm cung 17 nhịp, các nhà hát biếu diễn ca kịch, lầu ngắm cảnh xuân trên mặt hồ cùng với rất nhiều kiến trúc truyền thống gắn với các bờ nước, ở phía bắc núi Vạn Thọ có tên Hải Thu viên, gợi hình ảnh một loại “vườn trong vườn”, tạo nên nơi đây một khung cảnh đặc sắc được mệnh danh là “miền Giang Nam thu nhỏ”.