Kiến trúc đền đài – miếu mạo

Kiến trúc cổ Việt Nam

kiến trúc đền đài – miếu mạo là một bộ phận của kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng nước ta. Một số công trình đền đài – miếu mạo là nơi thờ cúng của đạo Giáo (Lão giáo) – nguyên là một thứ triết học của quần chúng bị áp bức thể hiện trong học thuyết đạo đức của lão tử: chống áp bức bóc lột, chống bất công xã hội và chủ trương đấu tranh tiêu cực, ước mơ trở lại chế độ công xã nguyên thủy. Đạo Giáo đã bị giai cấp thống trị lợi dụng và biến những luận điểm của đạo Giáo thành thuyết trường sinh bất tử, thuật tu tiên, thuật luyện linh đan làm thuốc trường’sinh, thuật phù phép để trừ tà bắt quỷ cầu bình yên chữa bệnh cho người ốm, thuật phong thủy để định hướng nhà, xây mộ, thuật tướng số bói toán để biết trước những biến đối lành dữ của đời người, tính số tử vi, chọn ngàv lành tháng tốt để cưới xin, cúng bái, làm nhà V. V… đạo Giáo khéo léo sử dụng một số tín ngưỡng dân gian của các cộng đồng dân tộc ở nước ta: thờ thiên nhiên, cúng tổ tiên, có khi kết hợp cả với Phật giáo, Khổng giáo làm những công cụ lũng đoạn tinh thần và nô dịch nhân dân ta. Có những ngôi điện thờ xuất phát tử lòng kính trọng, ngưỡng mộ và ghi nhớ công ơn của một anh hùng dân tộc có công với nước hay cóng đức của một cá nhân với một địa phương mà được dựng lên theo truyền thuyết tín ngưỡng dân gian, song dần dần cũng bị pha tạp và trớ thành “mê tín dị đoan” mất đi ý nghĩa ban đầu rất tốt đẹp.
Địa điếm xây dựng đền đài – miếu mạo thường được lựa chọn ở những vị trí có liên quan đến những truyền thuyết hoặc sự tích, cuộc sống của vị thần siêu nhiên hay nhân vật được tôn thờ.
Bố cục kiến trúc các đền miếu cũng tùy quy mô lớn nhỏ, phụ thuộc vào vốn đầu tư nên không cố định: khi thì gồm nhiều gian hợp thành một ngôi nhà đơn chiếc có mặt bằng hình chữ nhất ( —), hoặc nằm song song với nhau: chữ nhị (=), chữ tam (=). Củng có khi có một hoặc hai nhà quay ngang, nối dọc hợp thành một quần thể công trình: chữ đinh (J), chữ công (X) hay chư môn (fl), chữ Quốc (P) hoặc nội công ngoại quỏc ( 0 ) tương tự bố cục kiến trúc các ngôi chùa của Phật giáo. Đa số củng có sân phía trước điện thờ để tiện việc tiến hành nghi lể, sân có tường vây hoặc hành lang 2 bên hoặc bao quanh và ra vào qua cổng lớn, củng có khi xây 2 – 4 cột trụ tạo thành kiến trúc kiểm soát sự xuất nhập.
Đại thể kiến trúc bên ngoài của đền đài – miếu mạo có những đặc điểm cơ bán tương tự kiến trúc đình – chùa, do sử dụng kết cấu, vật liệu và phương thức xây dựng truyền thống của kiến trúc cổ Việt Nam. Song phân tích sâu hơn, rõ ràng từ hình thức tạo hình đến nội dung thờ cúng vả trang trí nội thất giữa đình – chùa và đền – miếu có nhiều khác biệt. Trong đền miếu không có tam bảo thờ các tượng phật mà phần lớn chỉ có hương án và bài vị thờ thần. Nếu có điêu khắc tượng một số nhãn vật cụ thế được tôn thờ như: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ V. V … hay trừu tượng chung chung như Đức ông, Thánh mẫu, Tiên cô V. V … thì củng được đặt ớ chính tẩm, hậu cung không được ra vào thường xuyên và khá bí ẩn, thiêng liêng.
Do đó song song xây dựng các đền đài, miếu mạo thờ các thánh siêu nhiên, “thất tiên” của đạo Giáo: Tam Thanh Huyền Đế, Linh quan, Lão Đăng Lộc đình, Thần Vũ Bát sát, Lão tổ Thiền sư, Hắc Hổ Huyền Đàn và Sùng Linh địa kì; bất chấp sự ngăn chặn cấm đoán, của bọn quan lại đô hộ, các đền thờ: Hùng Vương, Tản Viên, Hai Bà Trưng, Bà Triệu V. V… cũng được nhân dân khới lập trong thời kĩ khó khăn gian khổ này. Có những vị như Hai Bà Trưng, ngoài đên thờ quê hương khởi nghĩa: Mê Linh – Hà Nội, còn đền thò kinh đô Thăng Long và nơi tuẫn tiết hy sinh: Hát Môn – Hà Nội. Hiện nay trên khắp mọi miền đất nước còn di tích hàng trăm, hàng nghìn đền, đài, miếu mạo, quy mô lớn nhỏ khác nhau thờ các vị anh hùng dân tộc cùng các tướng lĩnh cận thần phò tá (riêng miền Bắc có hơn 200 đền, miếu thờ Lí Bí và các tướng tá của ông).
Thời kì độc lập tự chủ và phong kiến hưng thịnh: Ngô, Đinh, Tiền, Lê tiếp theo là Lí, Trần tuy Phật giáo chiếm địa vị độc tôn, chùa tháp được xây dựng mạnh mẽ và nhiều hơn cả, đền miếu vẩn có sự phát triển: đền Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành ở Hoa Lư – Hà Nam Ninh (khới dựng năm 1010) khi Lí Thái Tố dời đô từ Hoa Lư ra Thang Long, (trùng tu quy mô năm 1607 – 1610), đền Quan Thánh – Tran Vũ quán ớ Thăng Long (Hà Nội) năm 1142, cùng thời kì nhà Lí còn có các đền: Voi Phục, Tán Viên, Bạch Mã (Hà Nội), Lí Thường Kiệt (Thanh Hóa) V. V… thời Trần: các đền, miếu có từ thời Lí được duy trì mở mang và tu sửa, những đền, miếu được xây dựng mới thời kì này phần lớn là thờ các vị anh hùng dân tộc đã có công lớn trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược như: đền Kiếp Bạc thờ Tran Hưng Đạo (Đức thánh Trần) và đền thờ các tướng lĩnh nhà Trần: Trần Nhật Duật, Trần Quang Khái, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng V. V… một số đền, miếu khác được dựng trong lăng mộ các vua, chúa nhà Trần làm nơi thò cúng, bái vọng như đền An Sinh (Quảng Ninh), miếu Thái Đường (Thái Bình), Thâm Động (Thái Bình) V. V…
Thòi kì chế độ phong kiến tập quyền từ thịnh đạt chuyển sang suy vong (thế ki XV – XVII), nho giáo chiếm vai trò chủ chốt trong các tôn giáo, có thế lực mạnh ở triều đình và ngoài xã hội, đạo Giáo cũng như Phật giáo bị nhiều hạn chế và thăng trâm phức tạp, các đền, miếu xây dựng mới có quy mô lớn, giá trị nghệ thuật cao trong thời kì này hiếm hoi không đáng kể. Trong tín ngưỡng quần chúng nhân dân, các công trình đền, miếu thờ các anh hùng dân tộc, những người đã có công dựng nước và giữ nước vẫn được bảo tồn, duy tu song cũng có một số bị giai cấp thống trị và đạo Giáo lợi dụng, xuyên tạc pha tạp có tính chất mê tín dị đoan như “đền Kiếp Bạc”… mất đi ý nghĩa tốt đẹp ban đầu.