Kiến trúc cung điện, dinh thự – P2

Kiến trúc cổ Việt Nam

Các cung điện của những vua đời sau Lí Thái Tổ có khi lả sửa sang hay xây dựng lại trên nền cũ của những cung điện thời trước và thường đặt lại tên mới cho phù hợp với sự cai trị của mỗi đời vua. Những quần thể kiến trúc cung điện thường được bố trí theo trục đối xứng, cân bằng ngay ngắn để bảo đảm tính chất tôn nghiêm của quyền lực triều đình nhà nước phong kiến. Mặt bằng kiến trúc đơn giản: chữ nhất ( —) hav chư nhị (=), có hành lang, có gác kết hợp chặt chẽ với vườn hoa, mặt nước và cây cỏ thiên nhiên. Vật liệu xây dựng được huy động trong cả nước: ngoài gỗ quý còn dùng cả gạch, ngói, đá… vẫn là kết cấu gỗ truyền thống với những hàng cột chịu lực và số gian lé cùa kiến trúc dân gian song trang trí, thiết bị nội ngoại thất tinh vi hơn, cầu kì hơn, tráng lệ hơn và kích thước, quy mô cũng bề thế hơn.
Nhà Trần nối ngôi nhả Lí, đã phải đầu tư xây dựng mới và sửa sang lại Hoàng cung trong Thăng Long. Năm 1230, Trần Thái Tông đã cho xây mói một loạt cung điện, lầu gác, các nhà Lang Vũ… như cung Thánh từ cung Quan Triều… để phục vụ Thái thượng hoàng và nhà vua thiết triều, sinh hoạt, điện Thọ Quang là nơi tiếp các sứ thần, điện Tập Hiền là nơi chiêu đãi yến tiệc, điện Diên Hồng – Nơi đả diển ra hội nghị Diên Hồng nổi tiếng trong lịch sử …. kiến trúc cung điện nhà Trần so với nhà Lí có nét độc đáo riêng: công trình xây trên các bệ cao, đa số là hai tầng có gác, có cà 3 – 4 tầng; tầng dưới là “điện”, tầng trên là “các” và thường có hệ thống hành lang bao quanh rộng, thoáng mát, nối liền các công trình điện này với điện kia hoặc nối các điện vói các cửa Hoàng thành.
về kiến trúc cung điện nhà Trần ở Thăng Long, sách “Văn hiến thông kháo của Mã Đoan Lâm – nhà sử học thời Nguyên bên phương Bắc có viết: “… vua ở trên điện cao 4 tầng, xung quanh có nhiều cung điện, tất cả những cung điện đều sơn màu đỏ, cột có chạm rồng, phượng thần tiên…”. Ngoài cung thành, ở khu vực Gia Lâm vần có khu ngoại giao đoàn đón tiếp các sứ thần ngoại bang, lại còn phủ đệ một số công hầu khanh tướng.
Ngoài Thăng Long, các vua nhà Trần còn xây dựng một loạt cung điện nữa ơ quê hương Tức Mạc (Nam Định) hiện nay còn nhiều di tích. Sau 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thắng lợi, các dinh thự thái ấp của các tướng lĩnh có công với triều đình và dân tộc còn được nhà vua cấp đất, cấp vật tư, cấp nhân lực cho xây dựng ở một số địa phương như: Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo đại vương) ở Vạn Kiếp – Hải Hưng, Trần Quang Khải ở Mĩ Lộc – Hưng Yên, Trần Nhật Duật ở Tức Mạc – Nam Định, Trần Khánh Dư ở Vân Đồn – Quảng Ninh, Phạm Ngủ Lão ở Phù ứng – Hải Dương v.v…
Năm 1397, khi nhà Trần suy yếu – Hồ Quý Li âm mưu chiếm đoạt ngôi vua và ép Trần Thuận Tông dòi đô vào Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) rồi xây dựng ở đây một kinh đô mới lấy tên là Tây Đô, để phân biệt với Thăng Long là Đông Đô. không ghi chép rõ và quá ít ỏi nên không xác định được hình ảnh cụ thể nghệ thuật kiến trúc cung đình thời nhà Hồ có gì khác biệt lớn so với các thời trước đó.
Năm 1428, sau một thời gian bị quân nhà Minh xâm lược và chiếm đóng, Lê Thái Tố làm cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và kháng chiến chống Minh thắng lợi, tiếp tục đóng đô ờ Thăng Long – Đông Đô và sau đó đổi tên là Đông Kinh, xây dựng nhiều cung điện – dinh thự cho triều đình nhà Lê mới: Điện Kính Thiên, điện cần Chánh, điện Vạn Thọ v.v…, các vua Lê đời sau tiếp tục xây thêm: điện Hội Anh, điện cẩn Đức, điện Tường Quang, điện Giảng Võ, điện Thúy Ngọc, điện Thùa Hoa, điện Kim Loan, điện Bảo Quang v.v… (có công trình như điện Kính Thiên xây trên nền cũ của điện Kính Thiên thời Lí Trần, song to rộng đẹp đẽ hơn trước). Sang đầu thế kỉ XVI, các vua Lê sau này như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực v.v… xây dựng nhiều cung điện lầu gác nhằm phục vụ cuộc sống hưởng lạc, xa hoa, trác táng… như các công trình: điện Thượng Dương, điện Lưu Bôi, điện Tường Quang, Cửu Trùng đài V.V…. khá bề thế, lộng lẫy song số phận công trình cũng như Ngai vàng nhà vua và người thiết kế kiến trúc.
Ngoài Đông Kinh, kiến trúc cung điện thời Lê còn tập trung xây dựng khá rầm rộ ớ khu vực quê cha đất tổ của triều đại: Lam Sơn (Thanh Hóa) với tên gọi Lam Kinh, được coi như kinh đô thứ hai của đất nước. Lam Kinh được khởi công xây dựng từ 1433 (khi Lê Thái Tổ từ trần), sau đó lại được các vua Lê kế tục sửa sang, tu bổ do hỏa hoạn hoặc thời gian làm hư hỏng, mục nát. Sử sách ghi rõ: năm 1456 (đời vua Lê Nhân Tông) có trùng tu và đặt 3 ngồi điện có tên là Quang Đức, Sùng Hiếu và Diễn Khánh. Toàn bộ khu Lam Kinh xây dựng với bố cục tổng mặt bằng hình chữ nhật: 3 lõm X 250m, dựng trên một sườn đồi thoai thoải và tạo thành 3 cấp rõ rệt:
– Lớp thứ nhất: 138m – có cổng ngoài; cổng trong và sân điện
– Lớp thứ hai: 65m – nay còn dấu tích một nền nhà hình chữ (công) phải chăng
là 3 điện: Quang Đức, Sùng Hiếu và Diễn Khánh?
– Lớp thứ ba: 65m – gồm 9 nền nhà nhỏ và 1 giếng nước ở phía sau hiên (là 1
hố sâu có đường kính 6m).

Qua những biến cố lịch sử thời nhà Mạc tiếm quyền, đến thời Lê Trung Hưng, và vua Lê chúa Trịnh: kiến trúc cung điện dinh thự trong Hoàng thành nhà Hậu Lê trái qua nhiều lần bị thiêu đốt tàn phá trở nên hoang phế điêu tàn. Năm 1593, trở lại Đông Kinh – chúa Trịnh chỉ cho tu sửa tạm bợ Hoàng cung đế đón vua Lê về ớ làm vì, còn thực tế xây dựng được khởi công tập trung ở khu phủ chúa chiếm đóng trên một khu đất lớn rộng từ phường Báo Thiên của Kinh đô tới phía Nam gồm 52 cung điện lớn nhỏ cùng nhiều lâu đài, đình tạ ven hồ Hoàn Kiếm hiện nay như Ngũ Long Lâu cao hơn 300 thước, Thưởng trì cung ngầm dưới đất v.v… ngoài ra ven hồ Tâv còn xây Trúc tâm viện để nghỉ ngơi, hành cung cạnh chùa Trấn Quốc và nhiều cung điện nguy nga trên bãi nổi giữa hồ…

Năm 1802 – sau khi cách mạng Tây Sơn bị hoàn toàn thất bại – Nguyền Ánh (Gia Long) lập triều Nguyễn và đóng đô ở Huế (Phú Xuân) đã tập trung nhản lực và vật tư cả nước xây dựng Hoàng cung trong kinh đô Huế. Kiến trúc cung điện dinh thự nhả Nguyễn xây dựng trong Hoàng thành Đại nội Huế vẫn được bố cục xây dựng theo kiểu truyền thống triều đình phong kiến Á Đông và khới công từ thòi Gia Long (1802-1819), rầm rộ hơn cả là thời Minh Mạng (1820-1840) và các vua Nguyễn tiếp theo sau cũng tu bổ, mở mang thêm.
Kiến trúc cung đình dinh thự Huế bao gồm mấy loại:
– Dùng làm nơi thiết triều và cử hành lễ nghi: Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện cần Chánh, Tả Vu, Hữu Vu v.v…
– Nơi ớ của vua và gia đình: điện Càn Thành, điện Khôn Thái, điện Kiến Trung, cung Diên Thọ, cung Trường Xanh, điện Trinh Minh, điện Quang Minh V. V…
‘ – Các công sở – công quán: điện Văn Minh, điện Võ Hiển, Đông các phú nội vụ, Thị vệ trực phòng, Thái y viện, Thượng thiên đường v.v…
Theo các thư tịch, củng với đền miếu thờ tự và các kiến trúc vui chơi giải trí V.V.. trong Hoàng cung có tới trên 100 công trình lớn nhỏ. Những công trình kiến trúc – dinh thự – lầu tạ trong Đại nội Huế nói chung có phong cách hài hòa, khiêm tốn và chừng mực của kiến trúc dân gian Việt Nam; không quá đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy và quá uy nghi như kiến trúc cố cung – Bắc Kinh của triều đình phong kiến nhà Minh – Thanh phương Bắc, khiến người ta cảm thấy có ấn tượng sâu sắc về sự hòa hợp giữa con người, thiên nhiên và kiến trúc Huế.
Trải qua gần 100 năm với bao biến động lịch sử, khí hậu khắc nghiệt và thời gian tàn phá, một số lớn – trên 80% – cung điện dinh thự Hoàng cung nhả Nguyễn đà bị hủy hoại, chỉ còn lại: cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa cung Diên Thọ… cùng Thế Miếu, Hiển Lâm các… và một số kiến trúc nhỏ để chúng ta khảo sát, nghiên cứu và đánh giá. Mặt khác, trong điều kiện xả hội nửa phong kiến, nửa thuộc địa sau này và thời đại, lúc này trào lưu kiến trúc và kĩ thuật xây dựng phương Tây đã xâm nhập vào nước ta ngày một mạnh mẽ trên các đô thị lớn. Kiến trúc cung đình Huế đã bị ảnh hương và có sự lai tạp Á, Âu trong nhiều bộ phận đang là vấn đề bàn cãi của các nhà nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc và mĩ thuật. Có ý kiến cho là lai căng, rườm rà… song củng có người cho là có sáng tạo, mạnh dạn sứ dụng vật liệu mới, kĩ thuật tiên tiến và tìm tòi phong cách mới.