kien truc cong cong dan gian 53ce10bec3069 - Kiến trúc công cộng dân gian

Kiến trúc công cộng dân gian

Kiến trúc cổ Việt Nam

Những công trình kiến trúc công cộng dân gian được xây dựng tập thế nhằm phục vụ đông đảo nhân dân một lảng xóm hoặc một vùng địa phương cùng sứ dụng: cầu Kiều, quán điếm, cổng làng V. V…
1. Cầu Kiều: Kiến trúc cầu Kiều được xây dựng ngoài mục đích thuận tiện giao thông khi qua sông nước mà còn có một số mang tính chất kiến trúc công cộng: nghi ngơi, có khi kết hợp hàng quán nhỏ. Một số khác phối hợp và là một bộ phận của tổng thể công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng: đình, chùa, đền, miếu, lăng tấm V. V… hoặc nhằm tạo cảnh cho công viên, vườn thượng uyển của triều đình (Nhật Nguyệt tiên kiều ở chùa Thầy, Thê Húc kiều ở Đồn Ngọc Sơn, Yến Nguyệt kiều ở lăng Minh Mạng V. V…).
Phân loại theo phương thức vật liệu xây dựng có: cầu tre, cầu gỗ, cầu đá, cầu gạch ngói.
Phân loại theo phương thức cấu trúc có: cầu trẩn (không có mái che) và cầu có mái (thượng gia hạ kiều – trên là nhà dưới là cầu).
Những công trình cầu cổ dân gian còn lại ngày nay phần lớn là cầu đá và cầu có mái (thường gọi nôm na là cầu ngói).
– Cầu đá là những phiến đá vôi đơn giản gối vào những xà ngang cũng bằng đá, hai đầu xả nhô ra ngoài và được đẽo vênh lên để giữ các phiến đá lát mặt cầu khoi xô lệch. Những đầu xà này phần lớn có đục trang trí theo những mô tip nghệ thuật thời đại như đầu rồng, đầu sấu… cầu không có tay vịn mà phía ngoài các phiến đá lát hai bên mép cầu có đục gờ cao để làm cữ, tránh người đi trượt chân. Niên đại khới dựng hoặc tu sứa cầu nếu có thường được khắc ghi ở chân cột cầu củng thường bằng đá. Cầu đá thế hiện nghệ thuật và kĩ thuật xây dựng dân gian rõ nét: mộc mạc đơn giản song lại khéo léo tinh vi, vững vàng bền chắc mà lại tiết kiệm, mĩ quan (phần lớn khai thác vật liệu địa phương hoặc lân cận). Đó là những đặc điếm cúa kiến trúc cố truyền dân tộc, khi cần thiết có thể tháo lắp, di chuyển dễ dàng. Ngày nay rai rác ớ các địa phương vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Ninh Bình V. V… còn lại nhiều cầu đá đậm đà sắc thái truyền thống dân gian.
– Cầu có mái xây dựng theo từng ưhịp, từng gian vầ uốn cong sống trâu (đế thoát nước dễ dàng bên dưới lòng cầu), số nhịp và số gian dài ngắn, nhiều ít tùy chiều ngang bắc qua sông nước. Hai bờ chân cầu thường xây gạch hoặc kè đá chắc chắn tránh xói lở, bảo vệ cấu trúc cầu. Kiến trúc cầu ngói gồm 2 phần: cầu bên dưới (hạ kiều) và nhà bên trên (thượng gia).

Kiến trúc công cộng dân gian 1

Phần cầu có thân cầu là những cột gỗ tròn, cắm hơi nghiêng xuống đáy nước, đầu cột phía trên có đục mộng lắp khớp mặt dưới những xà ngang bằng gỗ của từng nhịp cầu. Trên xà ngang đặt xả dọc rồi lát ván mặt cầu. số cột tùy theo kiến trúc câu to hav nhó mà mỗi xà ngang có từ 2 – 6 cột.
Phần nhà là kiến trúc lắp trên cầu, kết cấu bằng các hàng cột dựng trên các xà ngang chia cầu làm 1 hoặc 3 gian theo chiều dọc. Nếu là cầu 3 gian: gian giữa rộng là lối đi qua lại, 2 bên hẹp hơn đặt bục hoặc đóng ghế dọc thành câu đê khách qua câu có thể nghi chân. Một số cầu có hàng nước, quà bánh và có khu tụ họp một cái chơ nhó trên cầu. Mỗi nhịp cầu có một bộ vì kèo gác hoành, đặt rui trên lợp ngói ta (câu làng Phú Khê – Hà Nam là cầu 2 tầng, 4 mái). Trên những kiến trúc cầu tương đối quy mô có khi còn đặt một bàn thờ thần cầu, thần sông V. V… ở một bên nhịp cầu giữa (bàn thờ này thường được dựng liền mái với nhà cầu nhưng đưa hắn ra phía ngoài – như một chuồng chim đế khỏi cản trớ dòng người qua lại). Cũng có cầu xây miêu thờ hoặc đặt bia đá ở một bên đầu cầu vừa nhằm mục đích tín ngưỡng (bảo vệ cầu) vừa tăng giá trị nghệ thuật cho kiến trúc cầu. cầu đá và cầu ngói đã có từ lâu đời và phát triến mạnh rộng khắp thời Lê Mạc (thế kỉ thứ XVI).
2. Quán điếm: Kiến trúc quán điếm lả một loại hình kiến trúc công cộng dân gian được xây dựng khá phố biến ở các địa phương đất nước ta. Quán điếm đơn giản, sơ sài được xây dựng bằng tranh tre nứa lá, quy mô hơn và bền chắc hơn thì xây dựng bằng gạch đá, gỗ ngói. Quán có quán nghỉ của nông dân ngoài đồng ruộng, quán chợ trong các chợ buôn bán sầm uất V. V… điếm có điếm tuần canh trong làng xóm, điếm canh đề phòng lủ lụt vỡ đê… Thông thường chỉ là một kiến trúc 3 gian mộc mạc song thắm đượm nghĩa tình. Ngày nay rải rác vẫn còn lại trong thôn xóm, ngoài cánh đồng, trên đê sông loại hình kiến trúc dân gian này.
3. Cổng làng: làng xóm Việt Nam hình thành những tụ điểm cư dân và đơn vị xã hội cơ sớ trong xã hội phong kiến từ lâu đời, thông thường được bao bọc và giới hạn bởi một lũy tre xanh tốt. Cũng như ngôi đình làng , cổng làng là cửa ngõ và cũng là bộ mặt của làng xóm, do đó ở thôn quê Việt Nam ngươi ta tự nguyện và cố gắng đóng góp xây dựng cổng làng thực sự mĩ quan, bền chắc (vì còn tác dụng bảo vệ an ninh làng xóm). Làng nghèo thì là một cái cổng tre mở lên, sập xuống; làng trù phú hơn thì kiến trúc bằng gạch, gỗ, ngói (có cống làng có gác đế tuần phu và tráng đinh luân phiên thường trực đêm ngày, (tương tự vọng lâu của kiến trúc cống thành), mái lợp ngói. Những làng xóm trung du một số xây cổng làng bằng đá ong, cùng những ngòi nhà ớ dân gian và các kiến trúc công cộng khác hòa thành một tổng thể kiến trúc đậm đà sắc thái địa phương (Hà Bắc, Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú V. V…). Những cổng làng tương đối quy mô này đều có cánh cửa gỗ chắc chắn, cửa đóng then cài và quy chế báo vệ nghiêm ngặt, khi cần thiết đóng sập cổng lại, kết hợp lũy tre vây kín làng xóm trở thành một “pháo đài bất khả xâm phạm” đối vói giặc dã, cướp bóc trong nước cung như bọn kẻ thù ngoại xâm.