Khổng miếu Bắc Kinh

Đô thị cổ Bắc Kinh

Khổng miếu Bắc Kinh nằm ở phố Quốc Tử Giám (nguyên là phố Thánh Hiền) trong An Định môn thuộc khu phía đông thành phố, là nơi đế vương phong kiến ba đời Nguyên, Minh, Thanh thờ cúng Khổng Tử. Ông sống vào thời Xuân Thu (571 – 479 tCn), là nhà giáo dục, nhà tư tướng, nhà chính trị lớn của Trung Quốc cổ đại. Học thuyết Nho gia do ông sáng lập là cột trụ tinh thần của giai cấp thống trị và tư tướng chính thông của xã hội phong kiến Trung Quốc, đã được đế vương các đời sùng bái và có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội Trung Quốc. Đặc biệt là từ khi Hán Vũ đế “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Khổng Tử càng được đề cao với những lễ nghi long trọng. Đời Hán, Tần, Tùy đã tôn Khổng Tử là Tiên Sư, Tiên Thánh, Tuyên Ni, Tuyên Phụ, đời Đường lại tăng thêm “Vãn Tuyên Vương”, đời Tống tăng thêm “Chí Thánh”, đời Nguyên lại thêm hai chữ “Đại Thành” và gọi Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương”. Đầu thời Minh vẫn dùng tên gọi này. Sau thời Gia Tĩnh, hai đời Minh – Thanh đều tôn Khổng Tử là “Chí thánh tiên sư”. Danh hiệu của Khổng Tử nhiều và tên miếu cũng rất nhiều. Đế vương các đời đều coi trọng việc tế lễ Khổng Tử. Hai đời Minh, Thanh, ngoài việc xây dựng Khổng miếu ở phía đông Thái Học Kinh Thành (tức Quốc Tử Giám, trụ sở của Thư viện Thú đô ngày nay, ở phía tây cống miếu) theo chế độ “Tả miếu hữu học”, các phú, châu, huyện học trong cả nước cũng đều lập miếu Khống và do quan đứng đầu địa phương các vùng phụ trách việc tế tự. Ngoài ra mỗi khi có đại sự, Hoàng đế còn phải thân chinh hoặc cử các quan đến quê nhà Khổng Tử (Khổng miếu ớ Khúc Phụ, Sơn Đông) để tế lễ. Trong Khống miếu ngoài thờ Khổng Tử ra, những người được thờ cúng theo còn có hiền triết các đời và tổ tiên của Khổng Tử.

Khống Miếu Bắc Kinh còn gọi là miếu Tiên Sư, bắt đầu xây dựng vào năm Đại Đức thứ sáu triều Nguyên (1302) và hoàn thành vào năm Đại Đức thứ mười. Nãm Chí Thuận thứ hai triều Nguyên (1331), Hoàng đế hạ chiếu ân chuẩn Khổng miếu có thế được theo quy chế hoàng cung xây giác lầu ở tư ngung. Thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức triều Minh đã tu tạo với quy mô lớn. Nãm Gia Tĩnh thứ chín (1530) xày thêm đền Sùng Khánh để thờ cúng tổ tiên năm đời của Khổng Tử. Năm Càn Long thứ hai triều Thanh (1737) Hoàng đế đích thân chỉ dụ cho Khổng miếu được sử dụng ngói lưu ly vàng, loại ngói có đắng cấp cao nhất. Khổng miếu thời đó đã lợp ngói vàng tường son nên rất huy hoàng, rực rỡ. Năm Quang Tự thứ ba mươi hai (1960) lại thăng lễ tiết tế Khổng Tử lên thành lễ lớn và cũng tiến hành tu sửa toàn diện với quy mô lớn. Tổng thể kiến trúc Khổng miếu có quy mô khá lớn, diện tích khoảng 22.000m2, có ba dãy viện lạc, kiến trúc chủ thể có Tiên Sư môn, Sùng Thánh từ, sắp xếp trên đường trục giữa từ nam đến bắc.

Tiên Sư môn là cổng chính của Khổng miếu, tạo hình cổ kính đơn giản, là kiến trúc gỗ, mang phong cách thời Nguyên. Trước Tiên Sư môn có một dãy tường hoa khảm lưu ly, phía ngoài hai bên đông tây có bia “Hạ mã” làm vào thời Thanh. Trong Tiên Sư môn, phía đông có bếp Thần, đình Tải sinh, đình Giếng, phía tây có kho Thần, và Trí trai sở. Sân bên trong có ba đình bia và 198 tấm bia ghi danh 51.524 vị tiến sĩ ba đời Nguyên, Minh, Thanh.

Phía Bắc Tiên Sư môn là Đại Thành môn, trong cổng có một chuông một trống, hai bên có mười trống đá (thời Càn Long) và ở giữa có hành lang thông thẳng đến điện Đại Thành là kiến trúc trung tâm của Khổng miếu. Điện Đại Thành là chính điện thờ Khổng Tử, trong điện có bày các nhạc khí cổ dùng khi tế tự như đàn, chuông, khánh…
Cung Ung Hòa nằm ở phía bắc đại lộ cung Ung Hòa thuộc khu phía đông thành phố, là miếu Lạt ma lớn nhất của Bắc Kinh, cũng là một trong những miếu Lạt ma nổi tiếng của Trung Quốc. Cung được xây dựng vào năm Khang Hy thứ ba mươi ba (1694), nguyên là Quan phòng của thái giám thời Minh, năm Khang Hy thứ ba mươi đã chọn địa điểm này để xây dựng phủ cho Hoàng tử thứ tư Dận Chân (Hoàng đế Ung Chính sau này). Sau khi Dận Chân kế vị, thì một nửa phủ được đổi thành Hoàng giáo thượng viện và một nửa là Hoàng cung. Vào năm Ung Chính thứ ba (1725) lại đổi là cung Ung Hòa. Khi Ung Chính mất, cung Ung Hòa trở thành sảnh đường để các Hoàng đế nhà Thanh thờ phụng di ảnh tổ tiên và phần lổm các điện đường trở thành nơi tụng kinh của Lạt ma hoàng giáo. Năm Càn Long thứ chín (1744) triều đình lại đổi cung Ung Hòa thành tu viện thờ phụng rộng rãi Lạt ma giáo của cả khu vực Mông, Tạng. Từ đó cung Ung Hòa trở thành trung tâm sự vụ Lạt ma giáo của triều đình nhà Thanh.

Cung Ung Hòa có diện tích hơn 60.000 m2 với hơn 1200 tòa điện đường, tãng xá…, là một quần thể kiến trúc cổ nguy nga tráng lệ. Kiến trúc chủ thể lấy phong cách của dân tộc Hán.làm chủ, có hấp thụ và kết hợp một cách khéo léo những đặc điểm trang trí của kiến trúc các dân tộc Mông, Tạng…
Toàn thể chùa miếu nằm ở phía bắc nhìn vể phía nam, chia làm ba lộ đông, trung, tây. Kiến trúc chú thế tập trung ở đường trục giữa từ nam đến bắc của trung lộ có bảy dãy điện lạc, năm tầng điện đường tạo thành, hai bên trái, phải còn có các phối điện và phôi lầu. Đầu phía nam của trung lộ là bia lầu viện, trong điện phía nam có tường bình phong màu đỏ thắm, ba mặt đông, tây, bắc đều có bia lầu môn nguy nga. Ớ đây địa thế bằng phảng, thoáng rộng, tùng bách rậm rạp khiển không gian thanh nhã u tịch.
Điện Thiên Vương nằm ở phía bắc Chiêu Thái môn, là dãy đại diện thứ nhất của cung Ung Hòa, điện nay nguyên là cửa cung của Ung Thân vương phủ (ở mái hiên điện vẫn còn ba chữ “Ung Hòa môn”). Chính giữa điện có tượng Di Lặc, tượng Tứ Đại Thiên Vương ở hai bên, tượng hộ pháp Vĩ Đà…
Cung điện Ung Hòa là dãy đại điện thứ hai, tương tự đại điện Đại Hùng của các chùa miếu. Cách trang trí, tô vẽ của đại diện này rất phong phú, đa dạng.
Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ cổ được du nhập vào Trung Quốc tới nay đã trên 2000 năm. Phật giáo chiếm vị trí quan trọng trong xã hội Trung Quốc và kiến trúc Phật giáo cũng trở thành loại hình kiến trúc quan trọng (chỉ đứng sau loại hình kiến trúc cung điện).
Từ thời Đông Hán đến Ngụy, Tấn, chùa thờ Phật thời kỳ đầu được chia làm hai loại: Một loại lấy tháp làm trung tâm, loại thứ hai không có tháp ở trung tâm mà xây dựng giống loại nhà ở có sân trong.

Bô’ cục của chùa theo kiểu có tháp ở trung tâm bắt nguồn từ quan niệm Phật giáo của Ấn Độ. Vào khoảng thời gian trước và sau Công nguyên, ở Ất Độ, khi nghệ thuật Kiên Đà La (Ganhara) còn chưa trở nên hưng thịnh thì vẫn chưa có tượng Phật mà đối tượng được các tín đồ tôn sùng chỉ là những di vật của Phật, di tích của Phật hay những vật kỷ niệm tiêu biểu cho những gì đức Phật đã trải qua khi còn sông. Tháp được coi là tượng trưng cho cõi Niết Bàn của Phật được xây dựng ở những nơi khi Đức Phật sinh thời đã có những hoạt động lớn, và rất được tôn sùng. Phong tục cua An Độ đi vòng quanh nhũng vật được tôn sùng (theo chiều kim dồng hồ) đế bày tó sự cung kính lớn nhất, khái niệm này cũng được truyền vào Trung Quốc và chùa thờ
Phật với tòa tháp ở trung tâm được xây dựng ồ ạt. Chùa Vĩnh Ninh là ngôi chùa thờ Phật lớn nhất ở Lạc Dương thời Bắc Ngụy, trong sân chùa có một tòa tháp gỗ cao chín tầng, phía bắc của tháp có Phật Điện, ở bốn mặt mỗi mặt đều trổ một cửa.

Sân của chùa thờ Phật có tháp ở trung tâm thường tạo đủ khoảng trống để cho các tãng đồ đi vòng quanh theo nghi lễ. Tháp cao sừng sững, hình dáng nổi bật, trở thành chủ thể trong quần thể chùa, bốn góc của sân nếu có vọng lâu thì cũng kết hợp chật chẽ với tháp lớn, làm nền cho tháp, tạo thành cảnh quan rất đa dạng. Khu sân là nơi quan trọng nhất nằm trên đường trục trung tâm của chùa, bố cục thường do hành lang gấp khúc uốn lượn vòng quanh tạo thành, chính giữa của hành lang trước có cổng lớn, bốn góc của hành lang gấp khúc có xây bốn vọng lâu cao lên, bên trong vọng lâu để kinh sách hoặc treo chuông lớn. Trên đường trục dọc của sân có từ một đến ba tòa điện đường, một tầng hoặc có lầu các, cũng có tháp hai tầng. Nếu có ba tòa điện đường thì tòa đầu và tòa cuối là một tầng, tòa ở giữa là lầu các để làm tăng thêm mức nhấp nhô của đường chân trời. Trục ngang nằm trước tiền điện, bên trái và phái trục ngang có xây điện thờ phụ, đa số là lầu các, quy mô nhỏ hơn tiền điện. Trong sân cũng thường có hồ nước, trên mặt nước có nhiều đài thấp hình vuông.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng