Chùa Giới Đài – Bắc Kinh

Đô thị cổ Bắc Kinh

Chùa Giới Đài (còn có tên là chùa Giới đàn) nằm ở chân núi Mã Yên thuộc khu Môn Đầu Câu (cách trung tâm Bắc Kinh 35 km về phía tây) là một trong những chùa nổi tiếng ở phía tây Bắc Kinh, ban đầu có tên là chùa Tuệ Tụ (xây dựng vào thời Cao Tổ nhà Đường khoảng năm 622), cách nay đã hơn 1.300 năm. Thời Hàm Ung đời Liêu (1065 – 1074), cao tăng Pháp Quân trùng tu chùa này và sáng lập ra Đàn giới trong chùa, mở đàn nêu điều răn giới, mớ ra phong tục truyền giới ở chùa này, lưu truyền đến đời Kim, Nguyên. Cuối thời Nguyên khởi nghĩa nông dân nổi lên chùa này bị hủy hoại. Từ năm Tuyên Đức thứ chín triều Minh (1434) đến năm Chính Thống thứ tám (1443) triều đình đã trích một khoản tiền lớn trùng tu chùa và đàn trong thời gian mười năm, sắc chỉ ban tên chùa Vạn Thọ. Vào thời Minh, Thanh còn nhiều lần trùng tu, mở rộng đặc biệt là đợt trùng tu thời Gia Tĩnh triều Minh có quy mô lớn nhất, trải qua bảy nãm mới hoàn thành. kiến trúc của chùa Giới Đài ngày nay chủ yếu do công trình của hai đời Minh, Thanh để lại.

Kiến trúc chùa nằm trên đường trục giữa có: điện Sơn Môn, điện Thiên Vương, bảo điện Đại Hùng, điện Quan Âm được xây dựa vào núi. Ngoài kiến trúc chủ thể trên đường trục giữa ra, trong chùa còn có nhiều điện đài, tháp trướng, bia, thiền đường, tăng xá… nhưng kiến trúc chủ yếu nhất và nổi tiếng chính là Đại Giới đàn (được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất đàn”). Giới đàn xây dựng ở trong điện Giới đàn của chùa nằm ở góc tây bắc, đây là nơi tăng chúng tứ phương thụ giới. Giới đàn là một đài cao kiểu tòa Tu Di ba tầng, xây bằng đá xanh, cao 3,25 m. Nơi thắt eo của mỗi tầng tòa Tu Di đều khắc tạc nhiều khám Phật nhỏ, trong khám đều có một giới thần nhỏ. Những giới thần nhỏ này có thần thái khác nhau, sinh động như thật, rất lôi cuốn sự chú ý của mọi người. Diện tích tầng trên của Giới đàn rộng 32m2, trên tòa sen lớn chính giữa là tượng Phật tổ Thích Ca Mâu Ni sơn vàng cao 3,25 m.
Ngoài Giới đàn ra, chùa còn nổi tiếng bởi những cây tùng cổ với những tên gọi như: Ngọa Long tùng, Tự Tại tùng, Cửu Long tùng, Bảo Tháp tùng…

Chùa Bích Vân nằm ở chân núi phía đông núi Hương Sơn, xã Tứ Quý Thanh, khu Hải Điện, là một ngôi chùa cổ nổi tiếng vì cấu trúc tinh xảo và phong cảnh ngoạn mục. Hoàng đế Càn Long thời Thanh ngự chế bia văn chùa Bích Vân đã nói: “Chùa Phật ở Tày Sơn có hàng trăm, chỉ có Bích Vân nổi tiếng vì hùng vĩ diễm lệ mà cảnh cũng đặc biệt. Núi non khe suối cao thấp, đài điện sát hồ, cây cối tre trúc lô nhô, suối chảy đan xen. Những học sĩ an nhàn tự tại hầu như không ai không muốn đặt chân lên đây”.
Chùa Bích Vân được xây dựng vào năm Chí Thuận thứ hai triều Nguyên (1331), do Gia Luật A Lặc Di hậu duệ cúa Gia Luật Sớ Tài, danh thần đầu thời Nguyên, hiến nhà riêng để xây dựng, tên ban đầu là am Bích Vân.

Chùa Bích Vân lưng dựa vào dãy núi, mặt giáp với khe sâu, cây rừng rậm rạp, cảnh sắc thanh nhã. Mấy dãy điện đài do thế núi mà cao dần lên, trên dưới cao thấp cách nhau đến hơn trãm mét. Vào năm Càn Long thứ mười ba (1748) xây dựng thêm tháp Kim Cương Bảo Tọa sau chùa, Hành cung viện bên trái chùa và La Hán đường bên phải chùa. Ba kiến trúc này chính là nơi thú vị nhất mà du khách ngày nay thường đến. Trong đó kiến trúc chủ thể trên đường trục giữa chủ yếu thuộc thời Minh.
Bên trong cổng chùa, từ chân núi lên đến đỉnh núi, kiến trúc chủ thể trên trục giữa gồm có: điện Sơn Môn, điện Thiên Vương, điện Thích Ca Mâu Ni (chính điện), điện Bồ Tát (thứ diện), nhà kỷ niệm Tôn Trung Sơn (nguyên là hậu điện) và tháp viện.

Ở chùa Bích Vân, đáng kể nhất là ba kiến trúc xây dựng thêm vào thời Càn Long thứ mười ba (1748) mô phỏng hình thức tháp Kim Cương Bảo Tọa của chùa Chân Giác (tức chùa Ngũ Tháp) bên ngoài Tày Trực môn xây dựng năm Thành Hóa thứ chín triều Minh (1473) nhưng quy mô lớn hơn tháp thời Minh. Tháp này cao khoảng 35 m, tháp dựa vào thế núi được Hoàng đế Càn Long ca ngợi là: “Thế như địa nhũng, nhìn tựa thiên du. Leo lên tháp nhìn ra xa xa, toàn cảnh kinh thành đều thu gọn trong tầm mắt”.
La Hán Đường nằm ớ sân bên phải của nhà kỷ niệm Trung Sơn (tức hậu điện), xây dựng vào năm Càn Long thứ mười ba, phỏng theo La Hán đường của chùa Tịnh Từ, Hàng Châu. Mặt bằng La Hán đường có hình chữ “điền”, ở giữa có bốn giếng trời nhỏ để lấy ánh sáng. Chính điện có thư hiên, hai bôn bày tượng Tứ Đại Thiên Vương, tượng điêu khắc năm trăm vị La Hấn các tượng thờ Phật Tam Thế, tượng Vĩ Đà, Địa Tạng Bồ Tát…

Hành Cung viện nằm ớ sân trái của nhà kỷ niệm Trung Sơn, nguyên là nơi các đế vương thời Thanh chơi núi thăm miếu và nghỉ mát.
Chùa Đàm Giá nằm ở chân núi Đàm Giá thuộc khu Môn Đầu Câu (phía sau có đầm Long Đàm, trước có cây giá nên thành tên) là ngôi chùa cổ nhất ở khu vực Bắc Kinh, xây dựng vào thời Tấn cách đây khoảng 1700 nãm. Ban đầu có tên là chùa Gia Phúc, thời Đường Võ Tắc Thiên đổi tên là chùa Long Tuyền, thời Kim lại gọi là chùa Đại Vạn thọ, năm Thiên Thuận thứ nhất triều Minh (1457) từng khôi phục tên cũ là chùa Gia Phúc. Nãm Khang Hy thứ ba mươi mốt triều Thanh (1692) tiến hành mở rộng xây dựng chùa với quy mô lớn và đổi tên là chùa Tụ Vân, được Hoàng đế Khang Hy đích thân đề “Sắc kiến Tụ Vân thiền tự”, khắc trên cổng chùa.
Chùa xây dựa vào sườn núi, điện đài nguy nga, tráng lệ. Sau chùa có chín ngọn núi bao quanh, trước chùa suối chảy uốn lượn, rất nhiều tháp tăng, tre trúc um tùm, phong cảnh rất đẹp.

Chùa Đàm Giá có diện tích tới 6,8 ha, kiến trúc gồm ba lộ Trung, Đông, Tây. Trung lộ từ nam đến bắc (tức từ dưới lên trên) có cổng chùa, điện Thiên Vương, điện Đại Hùng và điện Tam Thánh (nay không còn)… Đông lộ gồm các kiến trúc kiểu đình viện: phương trượng viện, cung Vạn Tuế, cung Thái Hậu… Tây lộ gồm có các điện đường kiểu tự viện: đàn Lãng Nghiêm, Giới đàn, điện Quan Âm… Điện Quan Âm là điểm cao nhất của toàn chùa, trước điện có bức hoành phi chữ vàng “Liên giới từ hàng” (do Càn Long viết) trước tượng Quan Âm trong điện nguyên có tượng Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt và Hoàng hậu, con trai, con gái Diệu Nghiêm Công chúa. Diệu Nghiêm Công chúa vốn là một chiến tướng, sau theo đạo Phật đến tu ở chùa Đàm Giá, được gọi là Diệu Nghiêm đại sư. Truyền thuyết nói rằng trong thời gian tu hành, Diệu Nghiêm Công chúa rất thành kính, hàng ngày tụng kinh niệm phật ớ điện Quan Âm nơi nàng dứng tụng kinh lâu ngày gạch bị mài mòn, để lại một dấu tích lõm sâu, đó chính là “bái gạch” nổi tiếng.
Chùa Đàm Giá nổi tiếng bởi nhiều mặt trong đó phải kể đến cây giá. Cây giá là cây có thể chiết xuất được thuốc nhuộm màu vàng, gọi là “giá hoàng”.
Thân, vỏ, quả của cây có thể làm thuốc (người ta truyền rằng vỏ cây giá ở chùa Đàm Giá trị được chứng vô sinh của phụ nữ).

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có hình ảnh